Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi lợn giữ vị trí chủ lực trong việc cung cấp nguồn thực phẩm tiêu dùng nội địa, cung cấp nguồn phân bón cho trồng trọt và hướng tới tạo nguồn thu ngoại tệ phục vụ xuất khẩu. Để đáp ứng nhu cầu con giống thương phẩm chất lượng cao, các trang trại tập trung và hộ chăn nuôi đã nhập khẩu và nhân giống các dòng lợn ngoại thuần như Yorkshire và Landrace theo phương thức thâm canh công nghiệp. Tuy nhiên, các giống lợn ngoại này có đặc điểm ngoại hình lớn, khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta còn hạn chế, dẫn đến sức đề kháng giảm sút, đặc biệt trong giai đoạn mang thai và sinh sản.
Trong quá trình sinh đẻ, đường sinh dục của lợn nái mở rộng, dễ bị các vi sinh vật cơ hội từ môi trường chuồng nuôi xâm nhập (như Streptococcus, Staphylococcus, Escherichia coli...). Tình trạng này gây ra các hội chứng nhiễm trùng sau đẻ, phổ biến nhất là bệnh viêm tử cung, viêm vú và chứng bại liệt sau đẻ. Các bệnh lý sản khoa này làm suy giảm nghiêm trọng năng suất sinh sản, giảm tiết sữa hoặc mất sữa hoàn toàn, khiến lợn con suy dinh dưỡng, còi cọc và tăng tỷ lệ chết non. Nếu không được chẩn đoán và can thiệp kịp thời, bệnh có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết, gây vô sinh hoặc buộc phải loại thải lợn nái sớm, gây thiệt hại kinh tế trực tiếp cho người chăn nuôi.
Xuất phát từ thực tế sản xuất tại cơ sở, đề tài nghiên cứu được thực hiện với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung, viêm vú, bại liệt trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn gia đình ông Ngô Xuân Lương thuộc thôn Tân Châu, xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị các bệnh sản khoa trên đàn nái tại trại nhằm xác định hiệu quả trị bệnh trên thực địa.
- Tham gia thực hiện các khâu kỹ thuật chăn nuôi và thú y phục vụ trực tiếp sản xuất tại trang trại (chăm sóc nuôi dưỡng, tiêm phòng vắc xin, vệ sinh sát trùng, đỡ đẻ, thụ tinh nhân tạo và điều trị các bệnh truyền nhiễm, nội khoa thông thường).
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản ngoại thuần thuộc 2 giống Yorkshire và Landrace (bao gồm nái hậu bị, nái kiểm định và nái cơ bản), tổng số theo dõi chuyên đề là 53 con.
- Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi lợn tập trung của gia đình ông Lương tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (tổng diện tích khuôn viên 9.300 m², khu chuồng nuôi chiếm 4.500 m²).
- Phạm vi thời gian: Đợt thực tập tốt nghiệp và theo dõi đề tài diễn ra từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014; số liệu theo dõi tỷ lệ mắc bệnh sản khoa được thu thập liên tục từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên giải phẫu và sinh lý học sinh sản của gia súc cái, kết hợp với các nghiên cứu bệnh lý học thú y chuyên biệt:
- Đặc điểm giải phẫu và sinh lý sinh sản: Nghiên cứu phân tích cấu trúc bộ máy sinh dục lợn nái gồm cơ quan sinh dục ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và cơ quan sinh dục trong (âm đạo dài 10 - 12 cm; cổ tử cung dài 10 - 18 cm có các gờ thịt cài răng lược; tử cung sừng kép dài 50 - 100 cm; buồng trứng và ống dẫn trứng). Các chỉ tiêu sinh lý làm căn cứ đánh giá gồm: tuổi động dục lần đầu của nái ngoại (6 - 8 tháng tuổi, khối lượng 65 - 80 kg); tuổi phối giống lần đầu (khoảng 9 tháng tuổi, bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục đầu); chu kỳ tính dục (19 - 21 ngày); thời gian động dục (4 - 5 ngày); thời gian mang thai (trung bình 114 ngày, chia làm hai kỳ: kỳ I từ ngày 1 đến ngày 84, kỳ II từ ngày 85 đến khi sinh).
- Bệnh học các chứng bệnh sản khoa:
- Bệnh viêm tử cung: Phân chia theo 3 mức độ lâm sàng gồm thể nhẹ nhờn (+), thể vừa có mủ (++), thể nặng có mủ (+++). Căn bệnh học liên quan đến vi khuẩn nhiễm qua đường sinh dục lúc sinh đẻ (E. coli, Proteus vulgaris, Streptococcus, Staphylococcus), xây xát do can thiệp đỡ đẻ bằng tay, sót nhau hoặc kỹ thuật thụ tinh nhân tạo không đảm bảo vô trùng.
- Bệnh viêm vú: Thể thanh dịch, cata, fibrin, có mủ hoặc hoại tử do vi khuẩn xâm nhập qua lỗ núm vú bị tổn thương bởi răng nanh lợn con, kế phát từ viêm tử cung hoặc do ứ đọng sữa cục bộ.
- Bệnh bại liệt sau đẻ: Hội chứng rối loạn thần kinh vận động do hạ canxi huyết, mất cân bằng tỷ lệ Canxi - Photpho, thiếu Vitamin D, hoặc do chèn ép, tổn thương dây thần kinh tọa và đám rối hông khum trong quá trình rặn đẻ thai to.
- Dược lý học thú y: Khóa luận khảo sát cơ chế của các chế phẩm dùng trong phòng và trị bệnh: thuốc kháng sinh Vilamoks-LA (chứa Amoxicillin trihydrate 150 mg/ml dạng huyễn dịch tác dụng kéo dài), thuốc kháng sinh phổ rộng Multibio (Ampicillin, Colistin, Dexamethasone), thuốc trợ sức Gluco-K-C-Namin (chứa Gluconate canxi 20.000 mg, Tolfenamic acid 140 mg, Vitamin C, Vitamin K), hormone kích thích co bóp tử cung Oxytocin và thuốc sát trùng, thụt rửa đường sinh dục.
Phương pháp nghiên cứu áp dụng trong khóa luận gồm:
- Phương pháp điều tra gián tiếp: Thu thập và tổng hợp số liệu hồi cứu qua sổ theo dõi phối giống, sổ ghi chép dịch tễ và nhật ký sản xuất của trang trại qua các năm.
- Phương pháp theo dõi trực tiếp: Kiểm tra đàn nái hàng ngày tại từng ô chuồng nuôi; ghi nhận biểu hiện lâm sàng (thân nhiệt, trạng thái ăn uống, tư thế rặn đái, màu sắc và mùi dịch tiết âm đạo, tình trạng sưng nóng của các bầu vú, khả năng đi lại vận động); phân loại bệnh trạng theo giống, lứa đẻ, nhóm nái và tháng theo dõi.
- Phương pháp thử nghiệm điều trị: Áp dụng phác đồ điều trị trực tiếp trên các cá thể mắc bệnh tại trại, theo dõi thời gian khỏi bệnh và tỷ lệ khỏi bệnh.
- Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán các tỷ lệ phần trăm theo công thức dịch tễ học và xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh vật học trong chăn nuôi của tác giả Nguyễn Văn Thiện (2008).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất
Phần này ghi nhận toàn bộ quá trình thực tập nghề nghiệp, nắm bắt điều kiện cơ sở hạ tầng và tham gia trực tiếp vào các hoạt động kỹ thuật tại trại lợn ông Lương:
- Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất: Trại nằm tại xã Ngọc Châu, huyện Tân Yên, Bắc Giang, tiếp giáp trục đường 295. Trại được bố trí 4.500 m² chuồng nuôi khép kín gồm khu nái đẻ ghép sân lồng sắt (nuôi mẹ và 8 - 14 con non), khu nái hậu bị và nái chửa có lồng sắt kích thước 2,4 x 0,6 m, khu chuồng lợn thịt 8 ô (nuôi 35 - 40 con/ô), khu cách ly 40 m², 2 bể biogas xử lý chất thải và nguồn nước giếng khoan độc lập. Trại sử dụng 100% thức ăn công nghiệp do Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam cung cấp.
- Công tác vệ sinh và tiêm phòng: Tác giả đã thực hiện 10 lần quét vôi, 17 lần phun thuốc sát trùng tiêu độc chuồng trại, 5 lần vệ sinh hố sát trùng, 5 lần phun thuốc diệt muỗi và 10 lần quét mạng nhện. Thực hiện tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin theo lịch cho lợn thịt (Circo, Dịch tả HC-Vac, LMLM Aftopor) và đàn nái, lợn con (Suyễn M+Pac, PRRS Porcilis, Parvo Porcilis ngừa khô thai, Dịch tả Porcilis CSF Live, Giả dại Porcilis Begonia, tẩy giun Flubenol 5%, trị ghẻ Taktic 12,5%), kết quả đạt mức an toàn 100%.
- Chẩn đoán và điều trị bệnh thông thường: Trực tiếp tham gia chẩn đoán và điều trị thành công nhiều ca bệnh nội - ngoại khoa và truyền nhiễm tại trại: điều trị 7 lợn nái mắc viêm tử cung (khỏi 100%), 4 lợn nái mắc viêm vú (khỏi 100%), 72 lợn con mắc tiêu chảy (khỏi 70 con, đạt 97,2%), 26 lợn mắc bệnh đường hô hấp (khỏi 24 con, đạt 92,31%), 2 lợn mắc viêm khớp (khỏi 100%), cùng các ca tụ huyết trùng (7 con) và phó thương hàn (4 con) khỏi bệnh hoàn toàn.
- Kỹ thuật chăn nuôi khác: Tham gia đỡ đẻ an toàn 41 ca nái sinh; cắt rốn, mài nanh và bấm đuôi cho 423 lợn con sơ sinh (an toàn 100%); tiêm sắt Fe-Dextrax B12 10% phòng thiếu máu cho 419 lợn con lúc 3 ngày tuổi và 10 ngày tuổi; thiến 227 lợn đực con lúc 3 ngày tuổi; thực hiện thụ tinh nhân tạo cho 36 lợn nái (đạt 35 nái thụ thai, tỷ lệ 97,2%); truyền dịch Glucoza 5% trợ sức cho 4 lợn nái kiệt sức sau đẻ.
Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học
Chuyên đề tập trung theo dõi thực trạng dịch tễ học của 3 chứng bệnh sinh sản trên đàn 53 lợn nái ngoại nuôi tại trại:
- Tình hình mắc bệnh chung: Trong 53 nái theo dõi, bệnh viêm tử cung có tỷ lệ mắc cao nhất với 7 ca mắc (chiếm 13,21%); bệnh viêm vú ghi nhận 4 ca mắc (chiếm 7,55%); bệnh bại liệt sau đẻ không ghi nhận ca mắc nào (0,00%). Tổng số lượt lợn nái mắc các bệnh sản khoa là 11 lượt con (chiếm 20,75%). Tác giả phân tích nguyên nhân viêm tử cung ở mức cao là do nái ngoại chưa thích nghi hoàn toàn với tiểu khí hậu nóng ẩm, chuồng trại chật hẹp nái ít vận động, cùng việc áp dụng can thiệp bằng tay chưa đúng kỹ thuật trong các ca đẻ khó làm tổn thương niêm mạc đường sinh dục.
- Tỷ lệ mắc bệnh theo giống: Khảo sát trên 42 nái Yorkshire và 11 nái Landrace:
- Giống Yorkshire: 5 con mắc viêm tử cung (11,90%), 3 con mắc viêm vú (7,14%).
- Giống Landrace: 2 con mắc viêm tử cung (18,18%), 1 con mắc viêm vú (9,09%).
Khác biệt giữa hai giống ngoại là không đáng kể, do cả hai đều là giống nhập nội từ vùng ôn đới, có kích thước thai lớn dẫn đến việc hỗ trợ sinh sản cơ học nhiều hơn.
- Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ: Khảo sát chia theo các nhóm lứa đẻ cho thấy nguy cơ mắc bệnh sản khoa tỷ lệ thuận với số lứa sinh:
- Lứa 0 (nái hậu bị, 11 con): Không có con nào mắc bệnh (0,00%).
- Lứa 1 - 2 (18 con): 1 con mắc viêm tử cung (5,56%), 1 con mắc viêm vú (5,56%).
- Lứa 3 - 4 (21 con): 5 con mắc viêm tử cung (23,81%), 3 con mắc viêm vú (14,29%).
- Lứa 5 - 6 (3 con): 1 con mắc viêm tử cung (33,33%), không có ca viêm vú (0,00%).
Lợn nái đẻ từ lứa thứ 5 trở đi thể trạng giảm sút, trương lực co bóp cơ tử cung suy yếu khiến thời gian rặn đẻ kéo dài, sản dịch không được tống xuất triệt để, tỷ lệ sát nhau tăng cao, dẫn đến nguy cơ viêm nhiễm bộc phát mạnh.
- Tỷ lệ mắc bệnh theo loại lợn nái: Khảo sát 11 nái hậu bị, 18 nái kiểm định và 24 nái cơ bản:
- Nái hậu bị: Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa là 0,00%.
- Nái kiểm định: 1 con mắc viêm tử cung (5,56%), 1 con mắc viêm vú (5,56%).
- Nái cơ bản: Tỷ lệ mắc cao nhất với 6 con mắc viêm tử cung (25,00%) và 3 con mắc viêm vú (12,50%).
- Tỷ lệ mắc bệnh theo các tháng theo dõi (tháng 6 - tháng 10/2014):
- Tháng 6 (6 con theo dõi): 0 con mắc bệnh (0,00%).
- Tháng 7 (11 con theo dõi): 2 con mắc viêm tử cung (18,18%), 0 ca viêm vú.
- Tháng 8 (15 con theo dõi): 3 con mắc viêm tử cung (20,00%), 2 con mắc viêm vú (13,33%).
- Tháng 9 (12 con theo dõi): 1 con mắc viêm tử cung (8,33%), 1 con mắc viêm vú (8,33%).
- Tháng 10 (9 con theo dõi): 1 con mắc viêm tử cung (11,11%), 1 con mắc viêm vú (11,11%).
Tỷ lệ bệnh tập trung cao vào các tháng 7 và tháng 8, thời điểm thời tiết mùa hè nắng nóng, độ ẩm cao khiến vi sinh vật môi trường phát triển mạnh và lợn nái bị căng thẳng nhiệt trong chu kỳ sinh sản.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các chỉ tiêu dịch tễ học và lâm sàng thực tế trên đàn lợn nái của trang trại, được hệ thống hóa qua bảng sau:
| Chỉ tiêu phân loại |
Số nái theo dõi (con) |
Mắc viêm tử cung (con - %) |
Mắc viêm vú (con - %) |
Mắc bại liệt (con - %) |
| Toàn đàn theo dõi |
53 |
7 (13,21%) |
4 (7,55%) |
0 (0,00%) |
| Theo giống: |
|
|
|
|
| - Yorkshire |
42 |
5 (11,90%) |
3 (7,14%) |
0 (0,00%) |
| - Landrace |
11 |
2 (18,18%) |
1 (9,09%) |
0 (0,00%) |
| Theo lứa đẻ: |
|
|
|
|
| - Lứa 0 |
11 |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
| - Lứa 1 - 2 |
18 |
1 (5,56%) |
1 (5,56%) |
0 (0,00%) |
| - Lứa 3 - 4 |
21 |
5 (23,81%) |
3 (14,29%) |
0 (0,00%) |
| - Lứa 5 - 6 |
3 |
1 (33,33%) |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
| Theo loại nái: |
|
|
|
|
| - Nái hậu bị |
11 |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
| - Nái kiểm định |
18 |
1 (5,56%) |
1 (5,56%) |
0 (0,00%) |
| - Nái cơ bản |
24 |
6 (25,00%) |
3 (12,50%) |
0 (0,00%) |
| Theo tháng (2014): |
|
|
|
|
| - Tháng 6 |
6 |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
| - Tháng 7 |
11 |
2 (18,18%) |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
| - Tháng 8 |
15 |
3 (20,00%) |
2 (13,33%) |
0 (0,00%) |
| - Tháng 9 |
12 |
1 (8,33%) |
1 (8,33%) |
0 (0,00%) |
| - Tháng 10 |
9 |
1 (11,11%) |
1 (11,11%) |
0 (0,00%) |
Về kết quả can thiệp điều trị, tác giả ghi nhận hiệu quả lâm sàng từ các phác đồ áp dụng tại cơ sở:
- Điều trị viêm tử cung: Liệu trình 3 - 5 ngày kết hợp tiêm bắp Vilamoks-LA (20 ml/ngày) và Gluco-K-C-Namin (20 ml/ngày), kết hợp thụt rửa tử cung bằng nước muối ấm 0,9% (3 lít/lần/ngày trong 3 ngày đối với các ca can thiệp tay) cho 7 ca bệnh, đạt tỷ lệ khỏi 100%.
- Điều trị viêm vú: Liệu trình 5 - 7 ngày tiêm bắp Vilamoks-LA (20 ml/ngày) và Gluco-K-C-Namin (20 ml/ngày), kết hợp chườm nước muối ấm 10% xoa bóp bầu vú (2 - 3 lần/ngày, 10 phút/lần) và vắt bỏ sữa ứ đọng cho 4 ca bệnh, đạt tỷ lệ khỏi 100%.
Các kiến nghị kỹ thuật được tác giả đề xuất cho trang trại gồm:
- Cách ly ngay lợn ốm khỏi đàn nái khỏe mạnh để ngăn chặn lây nhiễm chéo.
- Thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh sát trùng người và phương tiện ra vào trại.
- Khắc phục quy trình chôn lấp, tiêu hủy xác động vật chết do bệnh để bảo đảm an toàn dịch tễ.
- Bổ sung trang thiết bị chăn nuôi hiện đại, quản lý chặt chẽ vật tư thú y nhằm tối ưu hóa chi phí.
So với công bố của Nguyễn Văn Thanh (2007) về tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái vùng đồng bằng Bắc Bộ thường dưới 2%, số liệu thực tế tại trại lợn ông Lương cao hơn đáng kể (13,21%). Khóa luận chỉ ra rằng điều này phản ánh đặc thù quản lý của trang trại tư nhân nuôi hoàn toàn giống ngoại thuần: việc can thiệp cơ học bằng tay khi lợn khó đẻ chưa đúng quy trình kỹ thuật vô trùng là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh dục.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số điểm hạn chế do điều kiện thực hiện tại cơ sở sản xuất:
- Nghiên cứu chỉ được thực hiện trên quy mô một trại chăn nuôi gia đình trong thời gian 5 tháng (tháng 6 đến tháng 10/2014) với cỡ mẫu 53 con nái, do đó chưa bao quát được biến động dịch tễ qua chu kỳ cả năm (đặc biệt là mùa đông và mùa xuân).
- Việc chẩn đoán các thể bệnh viêm tử cung và viêm vú chủ yếu dựa trên triệu chứng lâm sàng và kinh nghiệm thực địa, chưa tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm để nuôi cấy, phân lập vi khuẩn và làm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm.
- Trong suốt thời gian theo dõi không xuất hiện ca bệnh bại liệt sau đẻ nào (tỷ lệ 0,00%), do đó tác giả chưa thể thử nghiệm và đánh giá phác đồ điều trị thực tế cho chứng bệnh này như mục tiêu đề ra.
Hướng nghiên cứu mở rộng được xác định từ phạm vi đề tài:
- Kéo dài thời gian theo dõi dịch tễ qua các mùa trong năm để làm rõ tác động của yếu tố thời tiết lạnh khô và nồm ẩm tới bệnh sản khoa ở nái ngoại.
- Thực hiện xét nghiệm vi sinh chuyên sâu nhằm định danh chính xác các chủng vi khuẩn gây viêm tử cung, viêm vú tại địa phương và xác định mức độ mẫn cảm kháng sinh của chúng.
- Tiếp tục theo dõi dài hạn chỉ số sinh sản ở các chu kỳ đẻ tiếp theo của những lợn nái đã được điều trị khỏi bệnh.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo ứng dụng thực tế cho sinh viên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y, kỹ thuật viên trại và các chủ hộ chăn nuôi lợn sinh sản:
- Quy trình tiêm phòng thực địa: Lịch tiêm phòng chi tiết cho lợn thịt (Bảng 1.2) và lợn nái, lợn con (Bảng 1.3) với các loại vắc xin cụ thể (Circo, Dịch tả HC-Vac, Aftopor, Porcilis PRRS, Porcilis Parvo, Porcilis Begonia, M+Pac) cung cấp khung tham chiếu chuẩn cho các trại nuôi quy mô bán công nghiệp.
- Kỹ thuật tiểu thủ thuật sản khoa và sơ sinh: Bản mô tả chi tiết các thao tác thực hành đỡ đẻ, bấm nanh, cắt đuôi, thiến dịch hoàn và bổ sung sắt cho lợn sơ sinh có giá trị hướng dẫn thực hành lâm sàng cho sinh viên thực tập.
- Phác đồ điều trị lâm sàng: Phác đồ kết hợp giữa kháng sinh phổ rộng Amoxicillin (Vilamoks-LA), thuốc kháng viêm trợ sức (Gluco-K-C-Namin) cùng các biện pháp hộ lý (thụt rửa nước muối ấm, xoa bóp bầu vú) mang tính khả thi cao, dễ áp dụng tại chỗ để kiểm soát các hội chứng nhiễm trùng sau sinh trên lợn nái.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ mắc bệnh sản khoa trên đàn lợn nái theo dõi tại trại lợn ông Lương cụ thể là bao nhiêu?
Trong tổng số 53 lợn nái theo dõi từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2014, có 7 con mắc bệnh viêm tử cung (chiếm 13,21%), 4 con mắc bệnh viêm vú (chiếm 7,55%) và không có con nào mắc bệnh bại liệt sau đẻ (0,00%). Tổng số lượt mắc bệnh sản khoa là 11 lượt con, chiếm tỷ lệ 20,75%.
2. Giữa giống lợn Yorkshire và Landrace tại trại, giống nào có tỷ lệ mắc viêm tử cung và viêm vú cao hơn?
Khảo sát cho thấy giống Landrace có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với giống Yorkshire: viêm tử cung ở Landrace là 18,18% (2/11 con) so với 11,90% ở Yorkshire (5/42 con); viêm vú ở Landrace là 9,09% (1/11 con) so với 7,14% ở Yorkshire (3/42 con). Cả hai giống đều có tỷ lệ bại liệt sau đẻ là 0,00%.
3. Lứa đẻ và nhóm loại lợn nái ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung tại cơ sở?
Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung tăng dần theo tuổi và số lứa sinh: nái hậu bị (lứa 0) không mắc bệnh (0,00%); nái kiểm định (lứa 1 - 2) mắc 5,56%; nái cơ bản ở lứa 3 - 4 mắc 23,81%; và nái lứa 5 - 6 có tỷ lệ mắc cao nhất đạt 33,33%. Điều này do lợn nái đẻ nhiều lứa có trương lực cơ tử cung suy giảm, thời gian sinh kéo dài và dễ bị tổn thương cơ học khi can thiệp đỡ đẻ.
4. Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung được áp dụng tại cơ sở gồm những loại thuốc nào và đạt hiệu quả ra sao?
Tác giả áp dụng liệu trình 3 - 5 ngày gồm: tiêm bắp Vilamoks-LA (20 ml/ngày), tiêm bắp Gluco-K-C-Namin (20 ml/ngày) và thụt rửa tử cung bằng nước muối ấm 0,9% (3 lít/lần/ngày, thực hiện liên tục 3 ngày đối với các ca can thiệp tay khi đẻ khó). Phác đồ này đã điều trị khỏi hoàn toàn cho cả 7 lợn nái mắc bệnh, đạt tỷ lệ khỏi 100%.
5. Lịch tiêm phòng cho đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn ông Lương sử dụng những loại vắc xin nào?
Đàn nái được tiêm phòng định kỳ các loại vắc xin gồm: Porcilis PRRS (phòng Tai xanh), Porcilis Parvo (phòng Khô thai tiêm 2 lần), Porcilis CSF Live (phòng Dịch tả), FMD (phòng Lở mồm long móng), Porcilis Begonia (phòng Giả dại), kết hợp tẩy giun bằng thuốc Flubenol 5% và trị ngoại ký sinh trùng ve ghẻ bằng thuốc Taktic 12,5%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Tráng đã cung cấp bức tranh dịch tễ học thực địa về các bệnh sinh sản thường gặp trên đàn lợn nái ngoại thuần (Yorkshire, Landrace) nuôi thâm canh tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Nghiên cứu xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung đạt 13,21%, bệnh viêm vú đạt 7,55%, đồng thời chỉ ra nguy cơ nhiễm bệnh gia tăng rõ rệt theo lứa đẻ của nái và tập trung vào các tháng hè nóng ẩm. Thử nghiệm lâm sàng tại chỗ cho thấy việc phối hợp kháng sinh Vilamoks-LA với thuốc kháng viêm hạ sốt Gluco-K-C-Namin cùng các biện pháp hộ lý cơ học đạt hiệu quả điều trị phục hồi hoàn toàn cho lợn nái mắc bệnh. Đây là tài liệu thực hành hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Thú y và kỹ thuật viên quản lý đàn nái sinh sản tại các cơ sở chăn nuôi gia trại, trang trại.