Đặt vấn đề Bệnh tiên mao trùng hay còn gọi là bệnh ngã nước ở trâu, bò do Trypanosoma evansi (T. evansi) gây ra. Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [10], Phan Địch Lân (2004) [13], Phan Văn Chinh (2006) [2], bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 - 30%, trên bò là 7 - 14%, trong đó tỷ lệ gia súc chết/gia súc mắc lên tới 6,3 - 20%. Bệnh gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi do ảnh hưởng đến sản lượng thịt và sức kéo.
Vì vậy, công tác chẩn đoán bệnh rất quan trọng, nhằm xác định đúng nguyên nhân gây bệnh để từ đó có biện pháp phòng và trị bệnh phù hợp, hiệu quả. Trong hệ thống các phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng hiện nay ở nước ta có nhiều phương pháp đang được áp dụng như: phương pháp chẩn đoán truyền thống, phương pháp chẩn đoán huyết thanh học, phương pháp chẩn đoán sinh học phân tử thì phương pháp chẩn đoán huyết thanh học được đánh giá là có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho kết quả nhanh và có khả năng chẩn đoán với số lượng mẫu lớn trong thời gian ngắn; độ đặc hiệu của CATT/ T. evansi đạt 98%, ELISA/ T. evansi đạt 95% và LATEX/ T.
evansi đạt 82% (Verloo D. Ưu điểm của các phương pháp này là cho kết quả chẩn đoán nhanh, số lượng mẫu lớn. Theo nghiên cứu của Bajyana Songa và Hamers (1988) [28], kháng nguyên RoTAT 1.2 là kháng nguyên bề mặt chính của T. evansi, nó xuất hiện sớm ngay sau khi ký sinh trùng xuất hiện đồng thời không gây phản ứng chéo với kháng thể đặc hiệu của các loài ký sinh trùng khác.
Trên cơ sở sử dụng kháng nguyên tái tổ hợp RoTAT 1.2 để xây dựng quy trình sản xuất Kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra. Ở Việt Nam, vấn đề sản xuất Kit huyết thanh học chẩn đoán bệnh tiên mao trùng còn khá mới mẻ, chúng ta vẫn phải sử dụng Kit nhập ngoại nên giá thành cao, chưa có khả năng cho phép sử dụng rộng rãi để chẩn đoán bệnh. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu chẩn đoán nhanh, với số lượng mẫu lớn trong thời gian ngắn, chúng tôi n 2 nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu điều kiện chế tạo và bảo quản Kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở trâu, bò”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được điều kiện thiết lập Kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở trâu, bò.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về các điều kiện thích hợp để chế tạo và bảo quản Kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở trâu, bò hiệu quả. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để hoàn thiện quy trình sản xuất Kit chẩn đoán bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở trâu, bò từ kháng nguyên tái tổ hợp. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Những hiểu biết về tiên mao trùng và bệnh tiên mao trùng ở gia súc Bệnh tiên mao trùng được Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở Việt Nam. Sau đó, bệnh được xác định là phổ biến ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước. Bệnh do loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi gây ra. Trâu, bò, ngựa mắc bệnh dễ chết hoặc thiếu máu, suy nhược, giảm hoặc mất khả năng sinh sản và sức sản xuất.
Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 2. Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma evansi trong hệ thống phân loại động vật học Theo Levine và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997 [6]), vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau: Ngành Sarcomastigophora Phân ngành Mastigophora Lớp Zoomastigophorasida Bộ Kinetoplastorida Họ Trypanosomatidae, Donein, 1901 Giống Trypanosoma Gruby, 1843 Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (M) theileria Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901 Loài Trypanosoma (H) leisi Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909 Loài Trypanosoma (S) cruzi Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918 Loài Trypanosoma (D) vivax Loài Trypanosoma (D) uniform Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (N) Congolense Loài Trypanosoma (N) Siminae n 4 Loài Trypanosoma (N) Vanhogi Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906 Loài Trypanosoma (T) brucei Loài Trypanosoma (T) gambience Loài Trypanosoma (T) rhodesiense Loài Trypanosoma (T) equiperdum Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964 Loài Trypanosoma (P) suis Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843 Loài Trypanosoma evansi (Stell, 1885) Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức quốc tế (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó là các loài: T. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của Trypanosoma evansi Tiên mao trùng T. evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài từ 18 - 34 µm (trung bình là 25 µm), chiều rộng từ 1,5 - 2 µm.
Cơ thể trong suốt, hình chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân nhọn. Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T. evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosonatidae. Cấu trúc từ bên ngoài vào bên trong được chia thành 3 phần chính: - Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa).
Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface - VGS). Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng. Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972 [34]; Phạm Sỹ Lăng, 1982 [10]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [5]). - Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài.
Trong nguyên sinh chất có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, kinetoplast (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào) và mạng lưới golgi. n 5 - Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng. Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể. Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa ADN.
Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do. Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare, 1972 [34]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [5]). Đặc điểm dịch tễ học tiên mao trùng 2.
Phân bố của bệnh Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông bán cầu. Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ châu Phi cho đến Philippine. Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển. Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [10], bệnh tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây).
Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và thay đổi giữa các vùng khác nhau (trâu, bò ở đồng bằng nhiễm tiên mao trùng cao hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng). Lê Ngọc Mỹ (1994) [16] đã điều tra tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò Việt Nam. Kết quả cho thấy, trâu, bò nhiễm tiên mao trùng với tỷ lệ cao (21,27%), trong khi đó trâu, bò nuôi ở các tỉnh miền núi phía Bắc nhiễm T. evansi cao hơn ở đồng bằng.
Theo Lê Đức Quyết và cs (1995) [21], Phạm Chiến và cs (1999) [1], trâu ở một số tỉnh miền Nam và Tây Nguyên nhiễm tiên mao trùng là 22,12%; bò là 6,6 - 10,3%. Phan Lục và cs (1996) [14] cho biết, tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng của bò ở một số địa phương miền Bắc là 5,9%. Theo Hà Viết Lượng (1998) [15], tỷ lệ bò nhiễm tiên mao trùng ở các tỉnh miền Trung là 8,99%. Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng Trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch., nhưng không ký sinh ở người.
Chen Qijun (1992) [30] cho biết: T. evansi gây bệnh cho hầu hết các loài động vật như trâu, bò, ngựa, la, chó… ở Trung Quốc. P (1992) [44] cho biết: tỷ lệ lưu hành bệnh tiên mao trùng ở trâu Indonesia cao hơn ở bò và tỷ lệ lưu hành bệnh ở bò lại cao hơn ở ngựa. Sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu (thuộc họ Tabanidae).
Ruồi và mòng hút máu của gia súc bị bệnh, hút luôn cả tiên mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ. Sự lây truyền này mang tính chất cơ học. Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng quan trọng. Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời gian: từ 1 -34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ: tiên mao trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53 giờ: tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng hẳn hoạt động.
Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của tiên mao trùng sau khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: Thời gian từ giờ thứ 1 đến thứ 5, tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự như khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài. Điều này có thể giải thích là do độc lực của tiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus. Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao trùng và đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu, n 7 giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất.