mở đầu cho dòng văn học vô sản và các khuynh hướng lãng mạn, hiện thực phê phán đã phát triển thành dòng độc lập. 15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Từ 1923 đến 1931 Nguyễn Công Hoan đã khẳng định phương pháp hiện thực phê phán trong thể loại truyện ngắn (Răng con chó của nhà tư sản, Oẳn tà roằn, Thật là phúc, Ngựa người và người ngựa. Trong hai năm 1930 - 1931 Ngô Tất Tố viết những tiểu phẩm văn học nổi tiếng trên các báo phổ thông, Đông Phương với các biệt hiệu Thiết Khẩu Nhi; Thục Điểu,. Năm 1931 cũng là năm tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng Phụng ra đời (Không một tiếng vang).
Năm 1932 đánh dấu một bước phát triển đột biến của dòng văn học lãng mạn: Báo Phong hoá; Văn xuôi Tự lực văn đoàn; Phong trào Thơ mới. Từ 1930 - 1935 cũng nổ ra hàng loạt cuộc tranh luận lớn nhỏ: cuộc tranh luận về Nho giáo giữa Phan Khôi, Trần Trọng Kim và Tản Đà; cuộc tranh luận xung quanh vấn đề Thơ mới. Báo Phong Hoá cho đăng hàng loạt phóng sự dài chủ trương bỏ cũ theo mới. Tất cả những cuộc tranh luận đó phản ánh cuộc đấu tranh giữa lễ giáo phong kiến, đại gia đình phong kiến với chủ nghĩa cá nhân tư sản, cuộc đấu tranh của tình cảm cá nhân, ý thức cá nhân chống lại những khuôn khổ gò bó, lối suy nghĩ và ngôn ngữ khuôn sáo của thơ ca một lớp nhà nho đã lỗi thời, đã tàn tạ.
Tự Lực Văn Đoàn đề xướng phong trào Âu hoá, đề cập đến cuộc xung đột giữa mới và cũ, lên án gia đình phong kiến, bênh vực tình yêu lứa đôi, bênh vực chủ nghĩa cá nhân tư sản. Văn học lãng lạn thời kỳ 30 - 45 gần như chiếm địa vị độc tôn trên thi đàn văn học công khai. Bắt đầu với nhóm Tự Lực Văn Đoàn và Phong trào Thơ mới. Ngoài nhóm Phong hoá, Ngày nay còn phải kể đến các nhóm Hà Nội báo (Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Thái Can, Nguyễn Nhược Pháp), Tiểu thuyết thứ bảy (Thâm Tâm, Trần Huyền Trân; Lai Ba, Ngọc Giao, Thanh Châu), Tao Đàn (Nguyễn Tuân, Phạm Hầu, Lưu Kỳ Linh), Xuân Thu Nhã Tập (Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ.
Ngoài làng văn đất Hà Thành còn phải kể đến các nhóm Sông Thương (Bàng Bá Lân, Anh 16 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Thơ), nhóm Huế (Nam Trân, Nguyễn Đình Thư), nhóm Bình Định (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê,. Ở nước ta, các nhà văn lãng mạn ít khi thành lập trường phái và có những tuyên ngôn nghệ thuật riêng. Tuy nhiên ở thời kỳ này chúng ta cũng thấy được quan điểm thẩm mĩ của họ qua một số bài thơ của Thế Lữ (Cây đàn muôn điệu), Xuân Diệu (Cảm xúc, lời thơ, Gửi hương), những bài phát biểu của Lưu Trọng Lư trong cuộc tranh luận về nghệ thuật (1935 - 1936) và cuối cùng người ta đã nghe thấy âm thanh của chủ nghĩa "nghệ thuật vị nghệ thuật" từ những bản nhạc dạo đầu của Cây đàn muôn điệu của Thế Lữ. Như vậy, văn học thời kỳ 1930 - 1945 là thời kỳ nở rộ và phát triển các khuynh hướng, nhóm phái văn học cùng với khuynh hướng văn học hiện thực phê phán, văn học lãng mạn, đặc biệt là phong trào thơ mới đã góp phần rất quan trọng trong việc đưa văn học Việt Nam tiến thẳng vào thời kỳ hiện đại.
Một trong những người có công đầu tiên phải kể đến là Thế Lữ - người có vai trò mở đường cho Thơ mới nói riêng và cho cả giai đoạn văn học 1930 - 1945 nói chung. Sự xuất hiện một thế hệ nhà văn, nhà thơ tài năng và sự hoàn thiện về thể loại Cùng với sự chuyển biến của tình hình xã hội, văn học thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, đặc biệt từ đầu những năm 30 trở đi, đã phát triển nhanh chóng đạt nhiều thành tựu to lớn. Chỉ trong vòng hơn một thập niên, các khu vực các dòng văn học đều vận động, phát triển với nhịp độ khẩn trương, mau lẹ. Điều đó thể hiện ở sự phát triển về số lượng tác giả và tác phẩm, sự hình thành và đổi mới các thể loại văn học và độ kết tinh ở những tác giả, tác phẩm tiêu biểu.
Tiểu thuyết từ trước năm 1930 còn ít ỏi và có phần đơn giản, thậm chí một số chỉ là phỏng tác. Đến những năm 30, thể loại này trở nên phong phú 17 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn và thật sự đổi mới, nhất là ở cách dựng truyện, tổ chức kết cấu và xây dựng tính cách nhân vật. Nhóm Tự lực văn đoàn với những tác phẩm thành công của Nhất Linh, Khái Hưng đã đẩy cuộc cách tân tiểu thuyết lên một bước mới. Tiếp đó là những tiểu thuyết có giá trị của Vũ Trọng Phụng.
Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao. đã đưa thể loại này lên đến đỉnh cao. Truyện ngắn thời kỳ này cũng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng. Chưa bào giờ truyện ngắn Việt Nam lại phong phú, đặc sắc như thế: truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan; truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Zếnh, truyện ngắn phong tục của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân; truyện ngắn có khả năng tạo nên bầu không khí Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân; truyện ngắn viết về đời tư, về cái hằng ngày, dựng lên được cả thế giới "sống mòn", mang tư tưởng sâu sắc, ý nghĩa khái quát rộng lớn với nhiều trang phân tích tâm lý đạt tới trình độ bậc thầy của Nam Cao.
Chỉ sau hơn một thập niên, chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều truyện ngắn đặc sắc, trong đó một số truyện ngắn có thể coi là kiệt tác. Phóng sự và tuỳ bút cũng phát triển mạnh được kết tinh trong những sáng tác của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân. Về bút ký, tuỳ bút phải kể đến Xuân Diệu và đặc biệt là Nguyễn Tuân - một cây bút tài hoa, độc đáo với nhiều tác phẩm đặc sắc. Trong lĩnh vực thơ ca, phong trào Thơ mới đã đem lại sự đổi thay sâu sắc với đội ngũ thi sĩ đông đảo, đa dạng, phong phú về phong cách nghệ thuật.
Hoài Thanh khẳng định trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thế: "Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên. và thiết tha rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu" (Thi nhân Việt Nam). 18 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Thơ ca cũng là thể loại chủ lực và có giá trị nhất của bộ phận văn học cách mạng. Đáng chú ý hơn cả là sáng tác của nhà thơ Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Thuỷ, Sóng Hồng,.
trong đó tiêu biểu nhất là những tập thơ sáng tác trong tù như Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh và Từ Ấy của Tố Hữu. Đây là hai thành tựu xuất sắc đưa thơ ca cách mạng lên tầm cao mới. Ở chặng này, kịch nói tiếp tục phát triển, được nhiều thành tựu vượt trội hơn so với trước đây. Gây được tiếng vang là những vở kịch của Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, nhất là những vở kịch khai thác đề tài lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng.
Cùng với sáng tác, nghiên cứu lý luận phê bình văn học cũng phát triển, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Có giá trị hơn cả là những công trình như Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân. Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan, Văn học Khải Luận của Đặng Thai Mai. đã góp phần thúc đẩy nền văn học phát triển.
Dường như bất cứ thể loại nào, văn học cũng phát triển ngày càng phát triển mạnh mẽ. Chính vì phát triển với tốc độ vũ bão như vậy nên không có cây bút nào giữ được vai trò tiên phong trong suốt chặng đường dài. Đó là cuộc chạy tiếp sức đầy căng thẳng, quyết liệt và cũng thật ngoạn mục tạo một nhịp độ khẩn trương, nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch sử văn học dân tộc. Vì vậy, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại thật có lí khi khẳng định "Ở nước ta một năm có thể kể như ba mươi năm của người".
Hoà chung trong sự phát triển mạnh mẽ đó chúng ta phải kể đến vai trò của Thế Lữ trong sự phát triển và hoàn thiện một số thể loại góp phần làm cho văn học giai đoạn này thực sự có một diện mạo mới, đa dạng, phong phú mang tính hiện đại. 19 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA THẾ LỮ TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ THỂ LOẠI VĂN HỌC MỚI Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, bút hiệu Lê Ta, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1907 tại ấp Thái Hà - Hà Nội trong một gia đình viên chức nhỏ. Thuở nhỏ ở Lạng Sơn sau đó về Hải Phòng học sơ học và thành chung.
Năm 1929 học song năm thứ ba bậc thành chung thì về Hà Nội thi đỗ dự thinh vào trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học được một năm thì bỏ. Có thể nói, Nguyễn Thế Lữ thuộc vào một số ít những nghệ sĩ đa tài của nền văn học nghệ thuật trước cách mạng. Thế Lữ là "khởi điểm của những khởi điểm". Khi sống ở Hải Phòng, lúc chỉ mới mười tám, đôi mươi Thế Lữ đã viết truyện, làm thơ.
Khi nền văn học nước nhà bước vào thời kỳ hiện đại hoá văn học, Thế Lữ bắt đầu được mời làm báo Phong hoá, sau đó ra nhập Tự lực văn đoàn là người sáng lập văn phái này. Ông là nhà báo, người biên tập nòng cốt, mẫn cán của hai tờ Phong hoá và Ngày nay. Về văn xuôi nghệ thuật, Thế Lữ cũng có những đóng góp đáng kể ở thể loại truyện trinh thám, truyện huyễn tưởng như là mở đầu một thể tài mới, một cách viết mới. Trong khi các tiểu thuyết gia văn học hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,.