Tổng quan luận án

Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu kinh tế vĩ mô trọng tâm của các quốc gia nhằm nâng cao sản lượng và cải thiện mức sống xã hội (Todaro & Smith, 2015). Mặc dù các quốc gia đang phát triển đã ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể trong hai thập niên qua, khoảng cách thu nhập bình quân giữa nhóm này với các quốc gia phát triển vẫn chưa được thu hẹp bền vững. Trong bối cảnh hiệu quả biên của việc gia tăng các yếu tố đầu vào truyền thống như vốn và lao động có xu hướng suy giảm, nâng cao năng suất, đặc biệt là năng suất yếu tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP), trở thành yêu cầu cốt lõi để duy trì tăng trưởng dài hạn (Krugman, 1997; OECD, 2014). Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xem TFP là phần dư ngoại sinh (Solow, 1956), trong khi lý thuyết tăng trưởng nội sinh xem vốn con người và nghiên cứu - triển khai là động lực nội sinh thúc đẩy TFP (Romer, 1986, 1990; Lucas, 1988). Mặt khác, trường phái kinh tế học thể chế mới lập luận rằng thể chế chính là yếu tố căn nguyên (fundamental determinants) quyết định việc tổ chức, phân bổ nguồn lực và chi phí giao dịch, từ đó chi phối các yếu tố trực tiếp (proximate determinants) như vốn, lao động và TFP để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (North & Thomas, 1973; Coase, 1998; Acemoglu & Robinson, 2012).

Khoảng trống nghiên cứu chính mà luận án chỉ ra bao gồm:

  • Các lý thuyết kinh tế vẫn tồn tại nhiều tranh luận về yếu tố căn nguyên dẫn đến tăng trưởng và việc đưa thể chế vào các mô hình tăng trưởng truyền thống chỉ mới bắt đầu trong thời gian gần đây (Sala-i-Martin, 2002).
  • Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trước đây chỉ đánh giá tách biệt mối quan hệ giữa thể chế với tăng trưởng hoặc giữa TFP với tăng trưởng; rất hiếm công trình đưa đồng thời cả thể chế, TFP và biến tương tác giữa thể chế và TFP vào cùng một khung phân tích tăng trưởng kinh tế.
  • Các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế thường thực hiện trên phạm vi đơn lẻ từng quốc gia hoặc các nhóm nước chưa đồng nhất, thiếu sự phân tích so sánh giữa các nhóm quốc gia có cùng trình độ phát triển để kiểm định tính phi tuyến của chất lượng thể chế.
  • Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm trong các công trình cùng chủ đề trước đây thường chỉ kéo dài đến năm 2010; việc đo lường chất lượng thể chế còn phân tán hoặc chỉ lựa chọn một số chỉ số đơn lẻ, chưa kiểm định toàn diện và nhất quán bộ chỉ số quản trị công. Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan chủ yếu áp dụng phương pháp thống kê mô tả, thiếu kiểm định định lượng về tác động đồng thời của thể chế và TFP.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung:

  1. Đánh giá tác động của chất lượng thể chế lên tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp tại các quốc gia đang phát triển.
  2. Đánh giá tác động của chất lượng thể chế, năng suất yếu tố tổng hợp và tương tác của chúng lên tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển.
  3. So sánh những tác động tại mục tiêu (1) và (2) giữa các nhóm quốc gia đang phát triển có đặc điểm tương đồng về thu nhập bình quân.

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Chất lượng thể chế có góp phần cải thiện tăng trưởng TFP hay không?
  • Câu hỏi 2: Chất lượng thể chế, tăng trưởng TFP và sự tương tác của chúng có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế?
  • Câu hỏi 3: Có sự khác biệt nào về mối quan hệ giữa chất lượng thể chế với tăng trưởng TFP và giữa chất lượng thể chế, tăng trưởng TFP với tăng trưởng kinh tế tại các nhóm quốc gia đang phát triển có đặc điểm tương đồng về thu nhập bình quân?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thể chế (được đại diện bằng 6 chỉ số đo lường chất lượng thể chế trong bộ chỉ số Quản trị công toàn cầu - WGI của Ngân hàng Thế giới), tăng trưởng TFP và tăng trưởng kinh tế.
  • Phạm vi không gian: Gồm 71 quốc gia đang phát triển trên thế giới, được lựa chọn theo phân loại thu nhập bình quân của Ngân hàng Thế giới và được phân tách thành ba nhóm mẫu gồm nhóm thu nhập trung bình thấp, nhóm thu nhập trung bình khá và nhóm thu nhập cao.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 19 năm, từ năm 1996 đến năm 2014.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước theo bốn nhóm chủ đề chính:

Nhóm nghiên cứu về tác động của thể chế đến TFP: North (1994) chỉ ra rằng môi trường thể chế kinh tế và chính trị thuận lợi là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy cải thiện năng suất, đồng thời giữa thay đổi thể chế và tiến bộ công nghệ có mối quan hệ tương hỗ. Các kiểm định thực nghiệm của Hall & Jones (1999), Islam (2008), Tebaldi & Elmslie (2013) và Krammer (2015) đều xác nhận chất lượng thể chế có mối quan hệ đồng biến với năng suất. Krammer (2015) khi so sánh hai nhóm nền kinh tế phát triển và nền kinh tế chuyển đổi đã phát hiện sự khác biệt về mức độ tác động của các biến thể chế đối với tăng trưởng năng suất.

Nhóm nghiên cứu về tác động của thể chế đến tăng trưởng kinh tế: Knack & Keefer (1995) và Rodrik & cộng sự (2004) sử dụng các biến đại diện về quyền sở hữu tài sản, tuân thủ pháp luật và kiểm soát tham nhũng, khẳng định thể chế là yếu tố thúc đẩy tăng trưởng. Khi sử dụng bộ chỉ số Quản trị công toàn cầu (WGI), Gani (2011), Venard (2013), Fayissa & Gill (2015) chỉ ra rằng ổn định chính trị, hiệu quả chính phủ, tuân thủ pháp luật và kiểm soát tham nhũng kích thích tăng trưởng GDP bình quân đầu người; ngược lại, chất lượng thể chế thấp và tham nhũng cao đóng vai trò như lực cản kìm hãm phát triển kinh tế. Tuy nhiên, kết quả giữa các tác giả vẫn tồn tại mâu thuẫn: Law & cộng sự (2013) cho rằng thể chế thúc đẩy tăng trưởng ở các nước thu nhập cao nhưng ở các nước thu nhập thấp thì chiều hướng ngược lại chiếm ưu thế; Andersen & Jensen (2013) khẳng định sự khác biệt thể chế tạo ra chênh lệch tăng trưởng; Omoteso & Ishola Mobolaji (2014) lại ghi nhận hiệu quả chính phủ có tác động nghịch biến trong khi ổn định chính trị và chất lượng luật pháp có tác động đồng biến tới tăng trưởng.

Nhóm nghiên cứu về vai trò của TFP đối với tăng trưởng kinh tế: Ahmad & cộng sự (2010), Park (2012) và Abdychev & cộng sự (2015) khẳng định TFP là động lực then chốt để các nước đang phát triển bắt kịp các nền kinh tế phát triển. Ở chiều ngược lại, Kim & Lau (1994), Young (1995), Reem Limam & Miller (2004) cho rằng ở các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu chuyển đổi hoặc thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp, sự tích lũy vốn vật chất và lao động chiếm tỷ trọng áp đảo, làm cho tác động của TFP thể hiện ở mức không đáng kể hoặc mang giá trị âm.

Nhóm nghiên cứu tích hợp thể chế, TFP và tăng trưởng kinh tế: Henriksen & cộng sự (2011) kết luận cải cách thể chế thúc đẩy đổi mới công nghệ trong ngành bơ sữa Đan Mạch, nhưng nghiên cứu chỉ giới hạn ở phạm vi một ngành cụ thể. Tang & cộng sự (2008) đưa thể chế và TFP vào phân tích nhưng biến phụ thuộc là độ biến động kinh tế vĩ mô chứ không phải tốc độ tăng trưởng. Gimenez & Sanau (2007) thiết lập hệ phương trình đánh giá ba yếu tố trên mẫu 64 quốc gia giai đoạn 1985–1997 nhưng sử dụng số lượng xuất bản tạp chí khoa học kỹ thuật để đại diện cho TFP. Tebaldi & Elmslie (2013) sử dụng số lượng bằng phát minh sáng chế, trong khi Silve & Plekhanov (2015) sử dụng dữ liệu các ngành công nghiệp nên tính đại diện cho toàn bộ nền kinh tế vĩ mô còn hạn chế.

Tại Việt Nam, các công trình của Nguyễn Văn Phúc (2013), Nguyễn Hồng Nga (2013) về thể chế và tăng trưởng, hay nghiên cứu của Trần Thọ Đạt & Đỗ Thị Tuyết Nhung (2011) về TFP chủ yếu dừng lại ở việc phân tích thống kê mô tả, chưa xây dựng mô hình kinh tế lượng để kiểm định tương tác giữa ba yếu tố.

Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng cách kết nối thể chế, TFP và tăng trưởng kinh tế vào một khung phân tích thống nhất; đưa biến tương tác giữa chất lượng thể chế và tăng trưởng TFP vào mô hình tăng trưởng kinh tế; sử dụng đầy đủ cả 6 chỉ số WGI để đánh giá riêng lẻ từng khía cạnh và kiểm định chỉ số tổng hợp; cập nhật dữ liệu bảng cân bằng đến năm 2014 và phân tách kiểm định trên ba nhóm thu nhập của 71 quốc gia đang phát triển.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên ba trụ cột lý thuyết kinh tế:

  1. Hàm sản xuất tân cổ điển dạng Cobb - Douglas: Biểu diễn mối quan hệ sản lượng $Y = F(A, K, L)$, trong đó $A$ là tiến bộ công nghệ đại diện cho TFP, $K$ là vốn vật chất và $L$ là lao động (Solow, 1956, 1957).
  2. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh: Giải thích tiến bộ công nghệ $A$ thông qua vốn con người và các hoạt động nghiên cứu phát minh nội sinh, ngăn chặn quy luật năng suất biên giảm dần của vốn (Romer, 1986, 1990; Lucas, 1988).
  3. Lý thuyết kinh tế học thể chế mới: Bắt nguồn từ lý thuyết chi phí giao dịch của Coase (1937, 1998) và hệ thống hóa của North (1990, 1994), Acemoglu & Robinson (2012). Thể chế định hình các ràng buộc chính thống (luật pháp, hiến pháp, quy định nhà nước) và phi chính thống (tập quán, văn hóa), tạo động cơ kinh tế và giảm thiểu rủi ro giao dịch. Thể chế được phân thành thể chế dung hợp (bảo vệ quyền sở hữu, tạo sân chơi bình đẳng) và thể chế khai thác (tước đoạt của cải phục vụ nhóm cầm quyền).

Khung phân tích của luận án kết hợp các mô hình thực nghiệm của Huang & Xu (1999), Tebaldi & Mohan (2009), Gimenez & Sanau (2007) để thiết lập mối quan hệ hai giai đoạn: Thể chế tác động trực tiếp đến tăng trưởng TFP, sau đó thể chế cùng với TFP và biến tương tác giữa chúng tác động đến tăng trưởng kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp định tính và thống kê mô tả: Tổng quan lý thuyết, tổng hợp tài liệu thực nghiệm, thống kê mô tả các biến số kinh tế vĩ mô và thực hiện kiểm định T-test về sự khác biệt chất lượng thể chế giữa các nhóm quốc gia theo mức thu nhập.
  • Phương pháp định lượng:
    • Dữ liệu bảng cân bằng (balanced panel data) của 71 quốc gia đang phát triển trong thời gian 19 năm (1996–2014).
    • Kỹ thuật ước lượng chính: Phương pháp Moment tổng quát sai phân (Difference GMM) theo Arellano & Bond (1991). Phương pháp này được lựa chọn nhằm kiểm soát hiện tượng nội sinh phát sinh từ mối quan hệ hai chiều giữa các biến kinh tế vĩ mô với phần dư, đồng thời xử lý hiện tượng tự tương quan gây ra bởi sự xuất hiện của biến trễ biến phụ thuộc trong mô hình bảng động.
    • Kỹ thuật kiểm định tính vững: Phương pháp bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn trên nền tảng hiệu ứng cố định (FE-2SLS) kết hợp với việc quy đổi 6 biến thể chế thành một chỉ số trung bình đại diện.

Nguồn tư liệu và đo lường biến:

  • Chất lượng thể chế: Sử dụng 6 chỉ số thuộc bộ chỉ số Quản trị công toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) do Ngân hàng Thế giới công bố từ năm 1996, gồm: (1) Tiếng nói và giải trình (Voice and Accountability), (2) Ổn định chính trị (Political Stability and Absence of Violence), (3) Hiệu quả chính phủ (Government Effectiveness), (4) Chất lượng luật pháp (Regulatory Quality), (5) Tuân thủ pháp luật (Rule of Law), và (6) Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption). Các chỉ số này nhận giá trị từ xấp xỉ -2,5 (chất lượng thấp nhất) đến +2,5 (chất lượng cao nhất).
  • Tăng trưởng TFP (TFPG): Được xác định theo phương pháp hạch toán tăng trưởng từ hàm sản xuất Cobb - Douglas và tiếp cận qua chỉ số Tornqvist-Theil (Diewert, 1976).
  • Tăng trưởng kinh tế và các biến kiểm soát: Thu thập từ các cơ sở dữ liệu quốc tế của Ngân hàng Thế giới (World Development Indicators - WDI), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (World Economic Outlook - WEO), Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) và Báo cáo OECD. Các biến kiểm soát gồm có: chi tiêu chính phủ, quy mô đầu tư, độ mở thương mại, tỷ lệ lạm phát và vốn con người.
Nhóm biến Ký hiệu / Thước đo Nguồn dữ liệu
Biến phụ thuộc mô hình 1 Tốc độ tăng trưởng năng suất yếu tố tổng hợp (TFPG) Tính toán theo phương pháp hạch toán tăng trưởng / Tornqvist
Biến phụ thuộc mô hình 2 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người Cơ sở dữ liệu WDI (Ngân hàng Thế giới)
Biến thể chế (6 biến WGI) Tiếng nói và giải trình; Ổn định chính trị; Hiệu quả chính phủ; Chất lượng luật pháp; Tuân thủ pháp luật; Kiểm soát tham nhũng Bộ chỉ số Worldwide Governance Indicators (WGI - World Bank)
Biến tương tác Thể chế × Tốc độ tăng trưởng TFP (Thể chế * TFPG) Biến tích số được tính toán trong mô hình
Biến kiểm soát kinh tế Đầu tư; Chi tiêu công; Độ mở thương mại; Lạm phát; Vốn con người World Bank (WDI), IMF (WEO), APO, OECD

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Chương 1 trình bày lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ vấn đề cốt lõi về nguồn gốc giàu nghèo của các quốc gia và yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu dựa trên năng suất tại các nền kinh tế đang phát triển. Chương này xác định 4 khoảng trống nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, từ đó xác lập 3 mục tiêu và 3 câu hỏi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu gồm 6 chỉ số WGI, tăng trưởng TFP và tăng trưởng kinh tế; phạm vi gồm 71 quốc gia đang phát triển trong thời gian 19 năm (1996–2014), chia thành 3 phân nhóm thu nhập. Chương 1 cũng trình bày quy trình nghiên cứu 7 bước (Hình 1.1), luận giải sự phù hợp của mô hình ước lượng GMM sai phân của Arellano và Bond (1991), nêu rõ ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn, tóm tắt 4 đóng góp mới của công trình và bố cục 5 chương của luận án.

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ TFP, THỂ CHẾ VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Chương 2 thực hiện tổng quan có hệ thống các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm:

  • Lý thuyết về TFP: Trình bày sự phát triển khái niệm năng suất từ Adam Smith, định nghĩa của Cơ quan Năng suất Châu Âu (EPA, 1958), Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương (2010), mô hình phân tách tăng trưởng của Saari (2006, Hình 2.1), tổng luận của Hulten (2001) và quan điểm của APO (2004), Trần Văn Thọ (1998). Giới thiệu chi tiết hai phương pháp tính toán: phương pháp hạch toán tăng trưởng từ hàm Cobb - Douglas và phương pháp chỉ số Tornqvist-Theil (Diewert, 1976).
  • Lý thuyết về thể chế: Trình bày quan điểm của Veblen, Schmid (1972), North (1990), Ngân hàng Thế giới (2002) và Acemoglu & Robinson (2012) về phân định thể chế kinh tế dung hợp - khai thác và thể chế chính trị dung hợp - khai thác. Lược khảo các công cụ đo lường thể chế: ICRG, BERI, Freedom House, Polity IV, Chỉ số Tự do kinh tế của Quỹ Di sản/Wall Street Journal, và phân tích sâu cấu trúc 6 chỉ số quản trị công WGI của Kaufmann, Kraay & Mastruzzi (2011).
  • Lý thuyết tăng trưởng kinh tế: Điểm lại trường phái cổ điển (Adam Smith, Malthus, Ricardo), Karl Marx, John Maynard Keynes, mô hình Harrod - Domar, mô hình tân cổ điển Solow (1956, 1957), mô hình tăng trưởng nội sinh (Romer, Lucas) và kinh tế học thể chế mới.
  • Mối quan hệ giữa thể chế, TFP và tăng trưởng: Tổng hợp các khung phân tích lý thuyết (North & Thomas, 1973; Huang & Xu, 1999; Tebaldi & Mohan, 2009; Gimenez & Sanau, 2007) và tổng hợp kết quả các nghiên cứu thực nghiệm qua Bảng 2.1 (thể chế - TFP), Bảng 2.2 (thể chế - tăng trưởng) và Bảng 2.3 (TFP - tăng trưởng), qua đó xác lập khung phân tích và dấu kỳ vọng của các biến (Hình 2.10).

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH, PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Chương 3 xây dựng hai mô hình kinh tế lượng thực nghiệm:

  • Mô hình 1: Ước lượng tác động của 6 chỉ số chất lượng thể chế lên tăng trưởng TFP, kiểm soát các biến vĩ mô liên quan.
  • Mô hình 2: Ước lượng tác động đồng thời của chất lượng thể chế, tăng trưởng TFP và biến tương tác giữa chất lượng thể chế với tăng trưởng TFP lên tăng trưởng GDP bình quân đầu người.

Chương này trình bày chi tiết phương pháp ước lượng GMM sai phân (Difference GMM), mô tả quy trình thu thập dữ liệu bảng cân bằng của 71 quốc gia giai đoạn 1996–2014 (Bảng 3.1). Phân tích thống kê mô tả được thực hiện riêng cho mẫu gộp (Bảng 3.2), nhóm thu nhập trung bình thấp (Bảng 3.3), nhóm thu nhập trung bình khá (Bảng 3.4) và nhóm thu nhập cao (Bảng 3.5). Đáng chú ý, tác giả thực hiện kiểm định T-test về chất lượng thể chế giữa các nhóm mẫu (Bảng 3.6), xác nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm thu nhập, tạo căn cứ định lượng để chia tách mẫu nghiên cứu.

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 4 công bố và thảo luận kết quả ước lượng thực nghiệm từ hai mô hình:

  • Tác động của thể chế đến tăng trưởng TFP: Trình bày ma trận tương quan giữa 6 chỉ số thể chế (Bảng 4.1) và ma trận tương quan các biến trong mô hình (Bảng 4.2). Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond trên mẫu gộp (Bảng 4.3) cho thấy các chỉ số chất lượng thể chế có tác động dương, thúc đẩy tăng trưởng TFP. Tuy nhiên, khi ước lượng cho từng nhóm mẫu (Bảng 4.4, 4.5, 4.6), xuất hiện sự phân hóa rõ nét: tại nhóm thu nhập trung bình thấp, chất lượng thể chế thể hiện tác động âm lên tăng trưởng TFP, trong khi ở nhóm thu nhập trung bình khá và nhóm thu nhập cao, tác động này mang dấu dương.
  • Tác động của thể chế, TFP và biến tương tác đến tăng trưởng kinh tế: Kết quả ma trận tương quan (Bảng 4.7) và ước lượng GMM sai phân mẫu gộp (Bảng 4.8) chứng minh TFP có tác động dương mạnh mẽ và giữ vai trò kênh truyền dẫn trung gian quan trọng từ thể chế đến tăng trưởng kinh tế. Biến tương tác (Thể chế * TFPG) có hệ số hồi quy dương có ý nghĩa thống kê đối với mẫu gộp (Bảng 4.8), mẫu thu nhập trung bình thấp (Bảng 4.9) và mẫu thu nhập trung bình khá (Bảng 4.10). Ngược lại, tại nhóm quốc gia thu nhập cao (Bảng 4.11), biến tương tác lại mang hệ số âm.
  • Kiểm định tính vững của mô hình: Tác giả thay thế 6 chỉ số riêng lẻ bằng biến chỉ số trung bình thể chế, tiến hành ước lượng GMM sai phân (Bảng 4.12) và phương pháp FE-2SLS (Bảng 4.13) trên mẫu gộp. Kết quả cho thấy các biến giải thích chính hoàn toàn nhất quán về dấu và ý nghĩa thống kê, trong khi các biến kiểm soát đạt mức độ tương đồng từ 66,6% đến 85,7% so với ước lượng ban đầu.

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Chương 5 tổng hợp toàn bộ các phát hiện thực nghiệm thông qua Bảng 5.1 (Tóm tắt kết quả ước lượng từ hai mô hình nghiên cứu). Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các hàm ý chính sách:

  • Nhóm hàm ý về nâng cao chất lượng thể chế: Tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo vệ quyền tài sản, củng cố tính minh bạch, kiểm soát tham nhũng và nâng cao hiệu quả cung ứng dịch vụ công của chính quyền.
  • Nhóm hàm ý về thúc đẩy tăng trưởng TFP: Đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tái cấu trúc việc sử dụng vốn, lao động theo hướng nâng cao hiệu suất.
  • Nhóm hàm ý về phối hợp thể chế - TFP theo phân tầng thu nhập: Nhận diện tính chất phi tuyến và ngưỡng thể chế; các nước thu nhập trung bình thấp cần thận trọng trong lộ trình cải cách để kiểm soát chi phí chuyển đổi thể chế ban đầu. Cuối chương, tác giả tự đánh giá các đóng góp khoa học và chỉ ra một số hạn chế của công trình.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tự xác định 4 điểm mới và đóng góp khoa học chính như sau:

STT Khía cạnh đóng góp Chi tiết phát hiện và đóng góp của luận án
1 Khung phân tích tích hợp thể chế, TFP và tăng trưởng Kết hợp đồng thời thể chế và TFP vào một khung phân tích kinh tế lượng, cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định TFP vừa là động lực trực tiếp, vừa đóng vai trò trung gian truyền dẫn tác động tích cực của thể chế đến tăng trưởng kinh tế.
2 Đưa biến tương tác (Thể chế × TFPG) vào mô hình Lần đầu tiên đưa biến tương tác giữa chất lượng thể chế và tăng trưởng TFP vào mô hình tăng trưởng kinh tế; phát hiện biến tương tác mang dấu dương ở mẫu gộp và nhóm thu nhập trung bình, nhưng mang dấu âm ở nhóm thu nhập cao, ủng hộ giả thuyết về ngưỡng chất lượng thể chế của Tebaldi & Mohan (2009).
3 Sử dụng toàn diện 6 chỉ số WGI và kiểm định tính vững Đánh giá độc lập cả 6 chỉ số thành phần WGI thay vì rút gọn 1–3 biến như các nghiên cứu trước; kiểm định độ vững thành công qua biến chỉ số trung bình thể chế bằng phương pháp GMM sai phân và FE-2SLS (độ tương đồng biến kiểm soát đạt 66,6% - 85,7%).
4 So sánh thực nghiệm theo 3 phân nhóm thu nhập Kiểm định T-test khẳng định sự khác biệt thể chế giữa 3 nhóm mẫu; phát hiện tính phi tuyến: tại nhóm thu nhập trung bình thấp, chất lượng thể chế có tác động âm tới tăng trưởng TFP và GDP bình quân, trái ngược với các nhóm thu nhập cao hơn.

Về mặt thực tiễn, luận án đề xuất các nhóm giải pháp chính:

  • Đối với cải thiện thể chế: Xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, nâng cao hiệu lực thực thi hợp đồng, tăng cường kiểm soát tham nhũng và nâng cao năng lực quản trị của bộ máy công quyền.
  • Đối với thúc đẩy TFP: Gắn kết cải cách thể chế với đổi mới công nghệ, khuyến khích đầu tư cho nghiên cứu triển khai (R&D), đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tối ưu hóa việc phân bổ các nguồn lực sản xuất.
  • Đối với điều hành kinh tế vĩ mô: Các chính phủ cần căn cứ vào ngưỡng thu nhập thực tế để lựa chọn thứ tự ưu tiên trong chính sách; nhóm các nước thu nhập trung bình thấp cần có chiến lược xử lý các rào cản chuyển đổi thể chế để tránh tác động tiêu cực ngắn hạn tới hiệu quả năng suất.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi dữ liệu giới hạn trong mẫu 71 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1996–2014, chưa bao quát toàn bộ các nền kinh tế trên phạm vi toàn cầu.
  • Các chỉ số đo lường chất lượng thể chế của WGI chủ yếu dựa trên dữ liệu nhận thức và cảm nhận (perceptions-based data) từ các cuộc điều tra, khảo sát chuyên gia, chưa phản ánh tuyệt đối các khía cạnh vận hành phi chính thống của thể chế tại từng quốc gia.
  • Chỉ số TFP được tính toán trên quy mô kinh tế vĩ mô tổng thể, chưa phân tách chi tiết sự dịch chuyển năng suất theo từng ngành kinh tế cụ thể.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng khung thời gian nghiên cứu sau năm 2014 để cập nhật biến động kinh tế và thể chế toàn cầu giai đoạn mới.
  • Kết hợp dữ liệu cấp ngành hoặc dữ liệu vi mô cấp doanh nghiệp để đánh giá sâu hơn cơ chế lan tỏa của thể chế tới năng suất từng khu vực sản xuất.
  • Bổ sung nhóm các quốc gia phát triển vào mẫu so sánh đa tầng để kiểm tra toàn diện hơn giả thuyết về ngưỡng chất lượng thể chế.

Giá trị tham khảo

Nội dung và kết quả của luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng học thuật và quản lý:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế: Tham khảo quy trình xây dựng mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng động, kỹ thuật ước lượng GMM sai phân (Difference GMM Arellano-Bond) và kỹ thuật kiểm định tính vững bằng FE-2SLS trong việc xử lý biến nội sinh và tự tương quan.
  • Giảng viên và cơ sở đào tạo chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế phát triển: Nguồn tài liệu hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết tăng trưởng (tân cổ điển, nội sinh, kinh tế học thể chế mới), các phương pháp đo lường TFP (hạch toán tăng trưởng, chỉ số Tornqvist) và hệ thống thước đo thể chế quốc tế (WGI, ICRG, BERI, Polity IV).
  • Các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô tại các quốc gia đang phát triển: Cơ sở dữ liệu thực nghiệm để nhận diện mối quan hệ giữa cải cách thể chế, nâng cao TFP và duy trì tăng trưởng, từ đó xây dựng các chương trình cải cách thể chế và chính sách thúc đẩy năng suất phù hợp với từng giai đoạn phát triển thu nhập.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những chỉ số nào để đo lường chất lượng thể chế?

Tác giả sử dụng 6 chỉ số thuộc bộ chỉ số Quản trị công toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WGI) của Ngân hàng Thế giới, bao gồm: Tiếng nói và giải trình, Ổn định chính trị, Hiệu quả chính phủ, Chất lượng luật pháp, Tuân thủ pháp luật và Kiểm soát tham nhũng. Các chỉ số này được chuẩn hóa với điểm số từ khoảng -2,5 (chất lượng thấp nhất) đến +2,5 (chất lượng cao nhất). Ngoài ra, tác giả sử dụng chỉ số trung bình của 6 biến này trong các kiểm định tính vững.

2. Biến tương tác giữa thể chế và tăng trưởng TFP mang lại phát hiện thực nghiệm gì?

Biến tương tác (Thể chế * TFPG) có tác động dương có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng kinh tế ở mẫu gộp, mẫu thu nhập trung bình thấp và mẫu thu nhập trung bình khá. Tuy nhiên, tại mẫu các quốc gia có thu nhập cao, biến tương tác này lại thể hiện tác động âm. Kết quả này ủng hộ giả thuyết về ngưỡng chất lượng thể chế của Tebaldi & Mohan (2009), cho thấy khi thể chế đạt tới một ngưỡng phát triển nhất định, tác động biên của việc tiếp tục cải thiện thể chế lên năng suất sẽ suy giảm, không còn tạo ra tác động đồng biến tới tăng trưởng.

3. Vì sao tác giả lựa chọn phương pháp ước lượng GMM sai phân của Arellano và Bond (1991)?

Phương pháp GMM sai phân được lựa chọn vì hai nguyên nhân kỹ thuật chính: (i) Các biến số nghiên cứu đều là biến số vĩ mô thường có tương quan với phần dư, làm xuất hiện hiện tượng nội sinh trong mô hình; (ii) Mô hình có chứa biến trễ của biến phụ thuộc ở vị trí biến độc lập, dẫn đến hiện tượng tự tương quan cao. Các phương pháp hồi quy truyền thống như OLS, Fixed Effects (FE) hay Random Effects (RE) sẽ cho kết quả chệch và không hiệu quả, trong khi GMM sai phân xử lý tốt các khuyết tật này và khai thác được cấu trúc động của dữ liệu bảng.

4. Kết quả ước lượng ở nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp có điểm gì khác biệt so với các nhóm còn lại?

Tại nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp, chất lượng thể chế có mối quan hệ nghịch biến (tác động âm) tới tăng trưởng TFP và tăng trưởng kinh tế, trái ngược với dấu tác động dương ở mẫu gộp và các nhóm thu nhập cao hơn. Tác giả giải thích hiện tượng này phù hợp với quan điểm của Kim & Lau (1994) và Young (1995), khi mà ở giai đoạn đầu phát triển, sự tích lũy vốn và lao động chiếm ưu thế lấn át vai trò của TFP, đồng thời việc cải cách và thực thi thể chế ban đầu có thể phát sinh chi phí điều chỉnh đáng kể.

5. Độ vững của các mô hình nghiên cứu được kiểm tra bằng cách nào?

Tác giả kiểm tra tính vững cho mẫu gộp bằng hai bước: (i) Thay thế 6 biến thể chế riêng lẻ bằng một biến chỉ số trung bình thể chế tổng hợp; (ii) Ước lượng lại mô hình bằng phương pháp GMM sai phân và phương pháp bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn trên nền tảng hiệu ứng cố định (FE-2SLS). Kết quả kiểm tra cho thấy các biến giải thích chính có sự nhất quán tuyệt đối, còn các biến giải thích kiểm soát đạt độ tương đồng từ 66,6% đến 85,7% so với kết quả ước lượng ban đầu.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Duy Linh đã cung cấp một công trình nghiên cứu thực nghiệm toàn diện về mối quan hệ giữa thể chế, năng suất yếu tố tổng hợp và tăng trưởng kinh tế trên mẫu dữ liệu bảng cân bằng gồm 71 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1996–2014. Thông qua phương pháp ước lượng GMM sai phân và FE-2SLS, công trình chứng minh vai trò trung gian thiết yếu của TFP trong việc truyền dẫn tác động của 6 khía cạnh quản trị công đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời xác nhận tác động có điều kiện của biến tương tác thể chế - TFP phụ thuộc vào ngưỡng thu nhập của từng quốc gia. Các kết quả định lượng thu được cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để các nhà nghiên cứu và giới hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô xây dựng lộ trình cải cách thể chế gắn liền với mục tiêu cải thiện năng suất tổng hợp trong dài hạn.