Chương 1 KHÁI QUÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN VÀ CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN 1. Thế chấp tài sản 1. Khái niệm và đặc điểm của thế chấp tài sản Thế chấp một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự truyền thống của pháp luật dân sự Việt Nam. Dưới phương diện ngữ nghĩa, "thế chấp" là động từ dùng để chỉ việc "giao tài sản làm tin để được vay tiền, thường với số tiền tương đối lớn"4.
Còn theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 1996 thì: "Thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản hoặc những giấy tờ có giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có quyền. Tài sản được thế chấp là các bất động sản, khi thế chấp do bên thế chấp giữ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận giao cho bên nhận thế chấp hoặc người thứ ba giữ. Việc thế chấp phải lập thành văn bản. Văn bản này có thể là văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính và phải có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Theo quy định của pháp luật thì một tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức chỉ được đem thế chấp một lần. Nếu có hành vi gian dối đem thế chấp một tài sản ở nhiều nới khác nhau để trục lợi là vi phạm pháp luật"5. Khái niệm về thế chấp cũng được ghi nhận tại Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa - Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006, theo đó thế chấp là: "Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản, theo đó, bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
Nguyễn Duy Lãm (chủ biên) (1996), Sổ tay Thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 8 Tài sản được thế chấp là bất động sản như nhà ở, vườn cây lâu năm, công trình xây dựng khác,… Có thể thế chấp một phần hoặc toàn bộ bất động sản để bảo đảm một hoặc nhiều nghĩa vụ, tùy theo giá trị của bất động sản cũng như tùy theo sự thỏa thuận của các bên. Hoa lợi phát sinh từ bất động sản, các vật phụ của bất động sản chỉ trở thành đối tượng của thế chấp nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Thông thường, tài sản thế chấp vẫn do bên thế chấp giữ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận giao cho bên nhận thế chấp hoặc người thứ ba giữ.
Việc thế chấp phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi nhận trong hợp đồng chính và phải có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định"6. Trong pháp luật thực định lần đầu tiên khái niệm "Thế chấp tài sản" được đưa ra tại Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 và lần lượt được ghi nhận trong các văn bản pháp luật thay thế là Bộ luật Dân sự năm 1995; Bộ luật Dân sự năm 2005. Cho tới thời điểm hiện tại Bộ luật Dân sự 2015 đang có hiệu lực, các nhà làm luật đã đưa ra nhiều thay đổi, bổ sung quan trọng vào hệ thống các quy định về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm cả các quy định về thế chấp tài sản. Khi đề cập đến khái niệm thế chấp tài sản, Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "1.
Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp". Ngoài quy định về khái niệm "thế chấp tài sản" các nhà làm luật dành thêm 10 điều luật khác, từ Điều 318 đến Điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2015 để quy định một số vấn đề pháp lý xoay quanh "thế chấp tài sản".
Từ nội dung của những điều luật trên, chúng ta nhận thấy biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là thế chấp tài sản có một số nét đặc trưng sau: 6. Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội. 9 - Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục khẳng định thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được giao kết giữa hai bên là bên thế chấp và bên nhận thế chấp. - Không khác biệt so với Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định đối tượng của hợp đồng thế chấp tài sản có thể là bất cứ loại tài sản nào.
- Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép thế chấp toàn bộ hoặc một phần tài sản là bất động sản hoặc động sản là đối tượng của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là thế chấp tài sản. - Bộ luật Dân sự năm 2015 giữ nguyên quan điểm tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ hoặc một bên thứ ba giữ nếu các bên có thỏa thuận. Về mặt nguyên tắc bên nhận thế chấp không được phép giữ tài sản thế chấp. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thế chấp tài sản.
Khác với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là cầm cố tài sản các nhà làm luật ràng buộc tài sản cầm cố trên cả hai phương diện là phương diện pháp lý và phương diện thực tế thì biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là thế chấp tài sản chỉ hạn chế về phương diện pháp lý đối với tài sản thế chấp. Bên thế chấp vẫn có thể sử dụng, khai thác công dụng của tài sản thế chấp qua đó làm tăng khả năng thực hiện nghĩa vụ của bản thân. Không những thế, tài sản thế chấp vẫn phát huy được công năng vốn có của nó và từ đó đem lại lợi ích cho xã hội. Chủ thể của hợp đồng thế chấp tài sản Về mặt lý thuyết, chủ thể luôn đóng một vai trò quan trọng trong pháp luật dân sự của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
Chính vì vậy, các quy định về chủ thể trong quan hệ dân sự luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà làm luật. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bốn nhóm chủ thể tham giao kết hợp đồng, giao dịch dân sự gồm: Cá nhân; pháp nhân; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự; hộ gia đình, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân trong quan hệ dân sự. Chủ thể là cá nhân Suy cho cùng, cá nhân mới là chủ thể đích thực và trực tiếp tham gia xác lập, giao kết các giao dịch dân sự nói chung và giao kết hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành ra 58 điều luật từ Điều 16 đến Điều 73 để quy định về "cá nhân".
Trước tiên, để có tư cách chủ thể tham gia vào các giao dịch dân sự thì cá nhân phải có "năng lực pháp luật dân sự" Điều 16 Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu rõ: "1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự". Pháp luật cho phép mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau và năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết đi. Tuy nhiên, để tham gia vào các quan hệ dân sự bên cạnh năng lực pháp luật thì cá nhân còn phải có cả năng lực hành vi dân sự.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xem xét trên hai phương diện là độ tuổi và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của cá nhân đó. Liên quan đến vấn đề này, Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về "người thành niên" như sau: "1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này".
Trong khi đó Điều 22 nói về "Mất năng lực hành vi dân sự"; Điều 23 đề cập đến "Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"; Điều 24 có nội dung về "Hạn chế năng lực hành vi dân sự". Như vậy, về mặt nguyên tắc người từ đủ 18 tuổi trở lên, phát triển một cách bình thường sẽ có quyền tự mình tham gia xác lập, giao kết mọi giao dịch dân sự, trong đó có cả giao dịch dân sự về thế chấp tài sản. Trừ một số trường hợp ngoại lệ trong trường hợp vợ, chồng tham gia giao kết hợp đồng thế chấp có đối tượng là tài sản liên quan đến khối tài sản của vợ, chồng thì chồng phải là người từ đủ 20 tuổi trở lên7. Do Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về "điều kiện kết hôn nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên" 7.
Xem Điều 38, Điều 41, Điều 46, Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. 11 Đối với người chưa thành niên cách thức xác lập, giao kết giao dịch được ghi nhận tại Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó: "1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý".