Tổng quan nghiên cứu

Quyền sử dụng đất nông nghiệp giữ vai trò là tư liệu sản xuất cốt lõi và tài sản bảo đảm quan trọng bậc nhất trong hệ thống tín dụng nông thôn tại Việt Nam. Tại tỉnh Bến Tre, địa phương có hơn 65 km chiều dài bờ biển được bao bọc bởi 4 nhánh sông Cửu Long gồm sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên, kinh tế nông nghiệp - thủy sản chiếm tỷ trọng chi phối với nhu cầu vốn vay ngân hàng liên tục gia tăng. Theo thống kê giai đoạn 2012 - 2019, hàng ngàn tỷ đồng vốn tín dụng đã được giải ngân thông qua biện pháp thế chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình. Tuy nhiên, hoạt động này làm phát sinh nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng với giá trị tài sản bảo đảm tồn đọng không thể xử lý lên đến hơn 120 tỷ đồng tại địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết xung đột giữa quy định pháp lý và thực tiễn xét xử liên quan đến điều kiện thế chấp, xác định tư cách thành viên hộ gia đình, quy trình công chứng, chứng thực và cơ chế xử lý tài sản bảo đảm. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2012 - 2019, từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật. Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn cho 4 điều kiện thế chấp bắt buộc theo Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất và nâng cao mức độ an toàn vốn cho các ngân hàng thương mại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 3 lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý kinh tế: Lý thuyết quyền tài sản, Lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng và Lý thuyết về giao dịch bảo đảm trong quan hệ dân sự. Luận văn làm rõ 4 khái niệm pháp lý trung tâm bao gồm: quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, hợp đồng thế chấp tài sản, đăng ký biện pháp bảo đảm và xử lý tài sản thế chấp.

Theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, hộ gia đình sử dụng đất là một chủ thể đặc biệt, đòi hỏi phải thỏa mãn đồng thời hai yếu tố: có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và đang sống chung có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Nội dung pháp lý trao cho hộ gia đình 08 quyền định đoạt mang tính tài sản theo Điều 167 Luật Đất đai năm 2013. Luận văn phân tích mối quan hệ giữa Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015 về sở hữu chung theo phần của thành viên gia đình và 2 hình thức xác thực hợp đồng bắt buộc gồm công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm gồm hơn 20 bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp tại tỉnh Bến Tre và Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết hợp 2 báo cáo tổng kết chuyên đề của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2012 - 2019.

Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng với cỡ mẫu tập trung vào các vụ án tranh chấp tín dụng thương mại điển hình có đối tượng bảo đảm là quyền sử dụng đất nông nghiệp cấp cho hộ gia đình. Tác giả kết hợp 3 phương pháp phân tích chủ đạo: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật để mổ xẻ cấu trúc điều luật, phương pháp thống kê xã hội học pháp luật để lượng hóa các vụ việc thi hành án tồn đọng, và phương pháp so sánh đối chiếu giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 với Bộ luật Dân sự năm 2015, giữa Luật Đất đai năm 2003 với Luật Đất đai năm 2013. Sự kết hợp này bảo đảm tính khách quan, giúp nhận diện rõ nguyên nhân dẫn đến các phán quyết trái chiều giữa cấp sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm trong suốt timeline nghiên cứu 7 năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tiễn tại tỉnh Bến Tre giai đoạn 2012 - 2019 đã chỉ ra 3 phát hiện then chốt:

Thứ nhất, rủi ro vô hiệu hợp đồng thế chấp do xác định sai chủ thể chiếm tỷ lệ áp đảo trong các tranh chấp. Thực tế xét xử cho thấy hơn 90% các vụ án bị hủy hoặc sửa bản án xuất phát từ việc hợp đồng thế chấp thiếu chữ ký của các thành viên đủ điều kiện trong hộ gia đình. Điển hình như vụ việc thế chấp 09 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm 12 thửa đất tại huyện Thạnh Phú, hợp đồng bị Tòa án tuyên vô hiệu do 3 người con đã thành niên không ký tên và chữ ký của người vợ bị giả mạo theo Kết luận giám định số 1952/C54B của Phân viện Khoa học hình sự.

Thứ hai, bất cập nghiêm trọng trong quy trình chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Do Nghị định số 23/2015/NĐ-CP chỉ quy định người thực hiện chứng thực chịu trách nhiệm về chữ ký mà không chịu trách nhiệm về nội dung, dẫn đến tình trạng gần 80% hợp đồng thế chấp được chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã bỏ lọt thành viên đồng sở hữu, gây rủi ro pháp lý trực tiếp cho ngân hàng nhận thế chấp.

Thứ ba, sự bùng nổ của các vụ việc thi hành án dân sự tồn đọng đối với tài sản đất nông nghiệp chung. Báo cáo thống kê cho thấy đầu năm 2016, toàn tỉnh Bến Tre có hơn 420 vụ án kê biên, thẩm định giá bán đấu giá nhiều lần không thành với tổng trị giá trên 120 tỷ đồng, đồng thời có hơn 670 việc án xác minh tài sản là đất của hộ gia đình trị giá hơn 44 tỷ đồng. Đến năm 2017, số lượng án tồn đọng tăng mạnh lên 624 việc án với số tiền hơn 50 tỷ đồng, phản ánh mức tăng trưởng hơn 48% về khối lượng tài sản bảo đảm bị phong tỏa, không thể thi hành dứt điểm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật. Khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 đưa ra tiêu chí "đang sống chung" nhưng không có quy định cụ thể về việc căn cứ vào sổ hộ khẩu hay đăng ký tạm trú, dẫn đến việc cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây không ghi danh sách thành viên cụ thể. Sự thiếu vắng này khiến các Thẩm phán có quan điểm trái ngược: cấp sơ thẩm căn cứ vào hồ sơ địa chính, trong khi cấp phúc thẩm lại suy đoán ý chí đại diện của chủ hộ theo Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2005.

So sánh với các nghiên cứu trước đây của một số tác giả trong ngành luật kinh tế, nghiên cứu này làm sâu sắc thêm bài toán xử lý tài sản bảo đảm theo Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014. Khi Tòa án tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu một phần, việc phân chia quyền sử dụng đất nông nghiệp trên thực địa gần như bất khả thi do diện tích thửa đất bị manh mún hoặc có công trình xây dựng gắn liền ở vị trí trung tâm. Toàn bộ bức tranh dữ liệu này có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cơ cấu nguyên nhân dẫn đến hợp đồng thế chấp vô hiệu và bảng đối chiếu trách nhiệm pháp lý giữa hoạt động công chứng theo Luật Công chứng năm 2014 với hoạt động chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về xác định tư cách thành viên hộ gia đình sử dụng đất trong Luật Đất đai. Quốc hội và Bộ Tài nguyên và Môi trường cần bổ sung điều khoản hướng dẫn chi tiết tiêu chí "đang sống chung", xác định thời điểm chốt danh sách thành viên là thời điểm có quyết định giao đất hoặc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mục tiêu là triệt tiêu 100% các xung đột về xác định chủ thể, hoàn thành lộ trình sửa đổi văn bản quy phạm trong giai đoạn 2020 - 2024.

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm và thẩm quyền thẩm tra của cơ quan chứng thực hợp đồng. Bộ Tư pháp cần ban hành thông tư sửa đổi Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, bắt buộc người thực hiện chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã phải kiểm tra danh sách hộ tịch và tình trạng pháp lý của thửa đất, giúp kéo giảm ít nhất 70% các sai phạm hình thức trong thời gian 12 tháng kể từ khi ban hành.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình xử lý và thu giữ tài sản thế chấp nông nghiệp. Chính phủ cần ban hành nghị định thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP, quy định rõ cơ chế cưỡng chế bàn giao tài sản có sự phối hợp bắt buộc của lực lượng Công an cấp xã trong thời hạn tối đa 15 ngày kể từ ngày nhận yêu cầu, nâng tỷ lệ phát mãi tài sản thành công lên trên 85%.

Thứ tư, tái cấu trúc quy trình thẩm định tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng thiết lập quy trình kiểm tra thực địa độc lập, thu thập cam kết bằng văn bản của 100% thành viên gia đình từ đủ 18 tuổi tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp, phấn đấu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu phát sinh từ đất nông nghiệp xuống dưới mức 2% toàn hệ thống trong giai đoạn 2020 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, cán bộ tín dụng và chuyên viên pháp chế ngân hàng thương mại. Luận văn cung cấp cẩm nang thực chiến giúp nhận diện các lỗ hổng khi lập hồ sơ thế chấp quyền sử dụng đất hộ gia đình, ngăn ngừa rủi ro tranh chấp hợp đồng ngay từ khâu thẩm định ban đầu.

Thứ hai, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân. Tài liệu là nguồn tham khảo giá trị trong việc phân tích nguồn gốc đất, đánh giá công sức đóng góp của từng thành viên và thống nhất đường lối xét xử các tranh chấp hợp đồng thế chấp phức tạp.

Thứ ba, Chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự. Công trình phân tích sâu các vướng mắc thực tiễn theo Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, gợi mở phương án xử lý tài sản chung không thể phân chia trên thực địa.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự. Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh và hệ thống dữ liệu bản án thực nghiệm phong phú phục vụ giảng dạy, nghiên cứu học thuật.

Câu hỏi thường gặp

Khi thế chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, những thành viên nào bắt buộc phải ký tên vào hợp đồng? Căn cứ Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 14 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT, tất cả các thành viên trong hộ gia đình là người thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự tại thời điểm giao kết phải cùng ký tên hoặc ủy quyền bằng văn bản công chứng cho người khác ký tên. Trong thực tế xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, việc thiếu chữ ký của thành viên đã thành niên dẫn đến việc hợp đồng bị tuyên vô hiệu một phần hoặc toàn bộ.

Hợp đồng thế chấp được chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã có độ an toàn pháp lý như thế nào so với công chứng? Theo Điều 35 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, cán bộ chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ chịu trách nhiệm về chữ ký của các bên mà không chịu trách nhiệm về nội dung hợp đồng. Ngược lại, công chứng viên theo Điều 46 Luật Công chứng năm 2014 phải chịu trách nhiệm toàn diện về tính hợp pháp của cả nội dung và hình thức, do đó việc công chứng có độ an toàn pháp lý cao hơn đáng kể.

Căn cứ pháp lý nào để xác định đất nông nghiệp không có tranh chấp khi ngân hàng nhận thế chấp? Theo Điều 188 và khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, đất không có tranh chấp là thửa đất được sử dụng ổn định, không có đơn khiếu nại, tranh chấp về ranh giới, quyền sử dụng hoặc nghĩa vụ tài sản đang được chính quyền địa phương hoặc Tòa án thụ lý giải quyết tại thời điểm công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm.

Ngân hàng có được quyền tự ý ủy quyền bán đấu giá tài sản thế chấp khi bên vay bất hợp tác không? Căn cứ Điều 63 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN, nếu bên thế chấp không tự nguyện bàn giao tài sản theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm đã công chứng, ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ thu giữ hoặc khởi kiện ra Tòa án để có bản án thi hành, bảo đảm không xâm phạm quyền tự định đoạt của chủ tài sản.

Trở ngại lớn nhất trong việc thi hành án tài sản thế chấp là đất hộ gia đình hiện nay là gì? Trở ngại lớn nhất theo Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 là việc không thể bóc tách phần diện tích đất cụ thể của người phải thi hành án trên thực địa do đất có công trình xây dựng chung hoặc việc chia nhỏ làm triệt tiêu giá trị sử dụng. Thống kê tại Bến Tre ghi nhận hơn 624 việc án thi hành án tài sản chung bị đình trệ vì nguyên nhân này.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ bản chất pháp lý đặc thù của quyền sử dụng đất nông nghiệp cấp cho hộ gia đình và chỉ ra các kẽ hở quy phạm trong hệ thống luật thực định giai đoạn 2012 - 2019.
  • Phân tích thực chứng hơn 20 vụ án và hơn 600 hồ sơ thi hành án tại tỉnh Bến Tre đã chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa sai sót trong thủ tục công chứng, chứng thực với tỷ lệ vô hiệu của hợp đồng thế chấp.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là đề xuất khung tiêu chí định lượng để xác định tư cách thành viên hộ gia đình và giải pháp phân chia tài sản chung trong giai đoạn thi hành án.
  • Trong lộ trình tiếp theo giai đoạn 2024 - 2028, các cơ quan lập pháp cần nhanh chóng thể chế hóa các giải pháp sửa đổi luật nhằm đồng bộ hóa quy định giữa Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự.
  • Các tổ chức tín dụng, cơ quan tiến hành tố tụng và người sử dụng đất hãy chủ động tham khảo chi tiết toàn văn luận văn thạc sĩ này để hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và bảo vệ tối đa lợi ích hợp pháp trong các giao dịch tín dụng nông nghiệp.