Luận văn thạc sĩ về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000: Thành tựu, Vướng mắc và Hướng hoàn thiện

Luận văn thạc sĩ VNU LS về luật hôn nhân và gia đình năm 2000 phân tích thành tựu, vướng mắc và hướng hoàn thiện trong lĩnh vực này.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2012

134
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆC THỰC HIỆN VÀ ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

1.1. Bối cảnh ra đời Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

1.2. Những thành tựu đã đạt được trong quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

1.2.1. Về kết hôn

1.2.2. Trong quan hệ giữa vợ và chồng

1.2.3. Trong quan hệ giữa cha mẹ và con

1.2.4. Trong việc tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tuân thủ pháp luật hôn nhân và gia đình

1.3. Một số vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

1.3.1. Chế định kết hôn

1.3.1.1. Về độ tuổi kết hôn
1.3.1.2. Điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam nữ khi kết hôn
1.3.1.3. Các trường hợp cấm kết hôn
1.3.1.4. Đăng ký kết hôn
1.3.1.5. Về hủy kết hôn trái pháp luật

1.3.2. Quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng

1.3.2.1. Các quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
1.3.2.2. Quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng
1.3.2.3. Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.3.2.4. Vấn đề thừa kế giữa vợ chồng

1.3.3. Quan hệ giữa cha mẹ và con

1.3.3.1. Nguyên tắc suy đoán xác định cha, mẹ cho con
1.3.3.2. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
1.3.3.3. Vấn đề hạn chế quyền của cha mẹ đối với con

1.3.4. Chế định cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình

1.3.5. Chế định ly hôn

1.3.5.1. Về quyền yêu cầu ly hôn
1.3.5.2. Về căn cứ ly hôn
1.3.5.3. Đường lối giải quyết các trường hợp ly hôn
1.3.5.4. Hậu quả pháp lý của ly hôn

1.3.6. Chế định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

1.3.6.1. Về kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.3.6.2. Về ly hôn có yếu tố nước ngoài

2. CHƯƠNG 2: SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

2.1. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

2.1.1. Những thay đổi về đường lối, chính sách của Đảng

2.1.2. Những tác động của sự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình

2.1.3. Do yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật

2.2. Kiến nghị hoàn thiện các chế định cụ thể của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

2.2.1. Chế định kết hôn

2.2.2. Chế định quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng

2.2.2.1. Về nhân thân
2.2.2.2. Về tài sản

2.2.3. Chế định quan hệ giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình

2.2.3.1. Về xác định cha, mẹ, con
2.2.3.2. Quan hệ giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình
2.2.3.3. Về quy định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con

2.2.4. Chế định cấp dưỡng

2.2.5. Chế định ly hôn

2.2.6. Chế định quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

2.2.6.1. Về kết hôn có yếu tố nước ngoài
2.2.6.2. Về ly hôn có yếu tố nước ngoài

2.2.7. Các biện pháp bảo đảm thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thành tựu của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2000

Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2000 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam. Sau hơn một thập kỷ thực hiện, Luật đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần xây dựng một xã hội công bằng và văn minh. Các quy định của Luật đã đi vào cuộc sống, nâng cao nhận thức của người dân về quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân và gia đình. Đặc biệt, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đã được khẳng định và thực hiện một cách rõ ràng.

1.1. Những thành tựu nổi bật trong thực hiện Luật Hôn nhân và Gia đình

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho các quan hệ hôn nhân và gia đình. Một trong những thành tựu nổi bật là việc xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, và một vợ một chồng. Điều này đã giúp nâng cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, đồng thời giảm thiểu các hủ tục lạc hậu trong các dân tộc thiểu số.

1.2. Tác động tích cực đến xã hội và gia đình

Luật Hôn nhân và Gia đình đã có tác động tích cực đến sự phát triển của xã hội. Các chính sách về dân số và kế hoạch hóa gia đình được thực hiện nghiêm túc hơn, nhờ vào sự nâng cao nhận thức của người dân. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

II. Những thách thức trong thực thi Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2000

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 vẫn gặp phải không ít thách thức trong quá trình thực thi. Các vấn đề như sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật, sự chênh lệch về nhận thức giữa các vùng miền, và các hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại, gây khó khăn cho việc áp dụng Luật.

2.1. Vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Luật

Nhiều quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình chưa được áp dụng một cách đồng bộ, dẫn đến sự khó khăn trong việc thực thi. Các cơ quan chức năng cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn để đảm bảo các quy định của Luật được thực hiện hiệu quả.

2.2. Hạn chế trong nhận thức của người dân về Luật

Nhận thức của người dân về quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân và gia đình vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Cần có các chương trình tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về Luật Hôn nhân và Gia đình.

III. Phương pháp cải thiện thực thi Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2000

Để nâng cao hiệu quả thực thi Luật Hôn nhân và Gia đình, cần có những phương pháp cải thiện cụ thể. Việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, và cải cách hành chính là những giải pháp quan trọng.

3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền về Luật

Cần triển khai các chương trình tuyên truyền rộng rãi về Luật Hôn nhân và Gia đình, nhằm nâng cao nhận thức của người dân. Các hình thức tuyên truyền đa dạng như hội thảo, tọa đàm, và các phương tiện truyền thông sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình.

3.2. Cải cách hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Cải cách hành chính là cần thiết để giảm thiểu thủ tục rườm rà trong việc đăng ký kết hôn, ly hôn, và các vấn đề liên quan đến gia đình. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý sẽ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho người dân.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Luật Hôn nhân và Gia đình 2000

Nghiên cứu về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực trong việc thực hiện các quy định của Luật. Các nghiên cứu cho thấy sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của người dân về hôn nhân và gia đình.

4.1. Kết quả nghiên cứu về tác động của Luật đến xã hội

Nghiên cứu cho thấy Luật Hôn nhân và Gia đình đã góp phần làm giảm tỷ lệ ly hôn và tăng cường sự ổn định trong các gia đình. Điều này cho thấy sự thành công của Luật trong việc xây dựng các giá trị gia đình bền vững.

4.2. Ứng dụng thực tiễn của Luật trong đời sống hàng ngày

Luật Hôn nhân và Gia đình đã được áp dụng trong nhiều tình huống thực tiễn, từ việc giải quyết tranh chấp hôn nhân đến việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Các cơ quan chức năng cần tiếp tục phát huy những kết quả này để đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong gia đình.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2000

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã có những đóng góp quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, cần có những sửa đổi, bổ sung phù hợp.

5.1. Đề xuất sửa đổi bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình

Cần xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình để phù hợp với thực tiễn xã hội hiện nay. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả thực thi và bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình.

5.2. Tương lai của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam

Tương lai của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam cần hướng đến việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện, bảo vệ quyền lợi của tất cả các thành viên trong gia đình, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thành tựu vướng mắc và hướng hoàn thiện

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆC THỰC HIỆN VÀ ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 1. Bối cảnh ra đời Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 HN&GĐ là những hiện tượng xã hội được các nhà nghiên cứu quan tâm và cũng trở thành những vấn đề luôn được quan tâm ở mọi giai đoạn lịch sử ở mỗi quốc gia. Mỗi gia đình là một tế bào tạo nên xã hội. Chính vì lẽ đó, mỗi quốc gia đều quan tâm xây dựng pháp luật về HN&GĐ.

Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Mỗi giai đoạn lịch sử đòi hỏi có những quy định về HN&GĐ phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, xã hội. Trước năm 1945, chế độ HN&GĐ Việt Nam được xây dựng trên cơ sở xã hội phong kiến. Cách mạng tháng 8/1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến lạc hậu.

Tuy nhiên, sau cách mạng các quan hệ sản xuất phong kiến vẫn còn tồn tại là cơ sở của chế độ HN&GĐ phong kiến, nên việc xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu không phải dễ dàng. Do đó, Nhà nước ta cũng chưa ban hành văn bản luật cụ thể điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình mà chỉ tiến hành vận động nhân dân tự nguyện xóa bỏ hủ tục phong kiến lạc hậu trong đời sống HN&GĐ. Qua thực tiễn của cuộc đấu tranh, phụ nữ tham gia ngày càng đông đảo vào các công việc xã hội, dần dần thoát khỏi những ràng buộc của chế độ đại gia đình phong kiến. Quyền bình đẳng giữa nam và nữ đã được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo trong Hiến pháp năm 1946.

Tình hình kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội đòi hỏi phải xóa bỏ một số chế định trong bộ dân luật cũ về các quan hệ HN&GĐ đang cản trở sự phát triển của xã hội. Do đó, lần lượt các sắc lệnh điều chỉnh về HN&GĐ ra đời: Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954), nước ta vẫn còn chia hai miền Nam-Bắc. Bước đầu miền Bắc đã thực hiện cải cách ruộng đất, căn bản đã xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến.

Tuy nhiên chế độ HN&GĐ phong kiến còn ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống HN&GĐ. Đòi hỏi cần ban hành văn bản Luật cụ thể nhằm xóa bỏ triệt để chế độ HN&GĐ phong kiến. Ngày 29/12/1959 Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 thông qua Luật HN&GĐ và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 13/01/1960. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có văn bản Luật riêng điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ.

Mục tiêu của Luật HN&GĐ năm 1959 là xóa bỏ hoàn toàn chế độ HN&GĐ phong kiến và xây dựng được mô hình gia đình mới theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Luật HN&GĐ năm 1959 bao gồm 6 chương và 35 điều. Sau gần hai mươi bảy năm thực hiện Luật HN&GĐ năm 1959 về cơ bản chúng ta đã xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến và bước đầu xây dựng được mô hình hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, bình đẳng giữa vợ và chồng. Sau khi đất nước thống nhất (1975), nền kinh tế và xã hội có nhiều thay đổi, đất nước bước vào giai đoạn khôi phục hậu quả chiến tranh và xây dựng nền kinh tế.

Sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã giành được những thành tựu đáng kể. Tình hình kinh tế-xã hội nước ta đã thay đổi về căn bản so với những năm 1959. Luật HN&GĐ năm 1959 có nhiều điều không còn phù hợp, tất yếu cần một văn bản Luật HN&GĐ mới thay thế. Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời trong những năm đầu thời kỳ đổi mới.

Quá trình thực hiện mục tiêu Công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước từ sau chính sách đổi mới toàn diện nền kinh tế theo hướng hội nhập nền kinh tế quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến các quan hệ HN&GĐ. Luật HN&GĐ năm 1986 gồm có 10 chương với 57 điều. Hơn mười năm thực hiện Luật HN&GĐ năm 1986, bên cạnh những thành tựu đạt được còn nhiều hạn chế vướng mắc. Ngày 9/6/2000 tại kỳ họp thứ 7 quốc hội khóa X, Quốc hội đã thông qua Luật HN&GĐ năm 2000.

Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời nhằm sửa đổi, bổ sung 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật HN&GĐ năm 1986 một cách toàn diện, bên cạnh đó vẫn tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật HN&GĐ Việt Nam. Luật HN&GĐ năm 2000 gồm 13 chương, 110 điều, được xây dựng và thực hiện trên nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ); Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú. Những thành tựu đã đạt được trong quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Sau mười một năm đưa vào triển khai, thực hiện Luật HN&GĐ năm 2000 đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhiều quy định của Luật đã được thực hiện tốt và đi sâu vào nhận thức của người dân.

Các nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ năm 2000 đã được thực hiện. Hôn nhân đã được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng ngày càng được nâng cao. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đã ngày càng được khẳng định và trở nên quan trọng. Vấn đề HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số được quan tâm, dần loại bỏ được những hủ tục lạc hậu.

Chính sách dân số và KHHGĐ được thực hiện nghiêm túc hơn bởi ý thức tự giác xuất phát từ nhận thức của người dân. Trẻ em được quan tâm, chăm sóc cả về thể lực lẫn trí lực. Cha mẹ đã ý thức đến việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái. Các chính sách xã hội đối với phụ nữ và trẻ em được Nhà nước đặc biệt quan tâm.

17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy vẫn còn số ít người có tư tưởng trọng nam khinh nữ nhưng tình trạng phân biệt đối xử giữa con trai và con gái không còn nặng nề như trước và chỉ còn tồn tại ở bộ phận nhỏ dân cư. Đời sống người dân ngày càng nâng cao, giáo dục và hệ thống truyền thông đại chúng ngày càng phát triển góp phần đưa đường lối chính sách và pháp luật đến gần với người dân. Mặt khác, ảnh hưởng của tư tưởng tiên tiến, hiện đại từ các quốc gia trên thế giới có tác động sâu sắc đến người dân Việt Nam, đẩy lùi những tư tưởng lạc hậu. Chính những yếu tố đó góp phần quan trọng giúp người dân hiểu, tích cực thực hiện đúng và tốt các quy định của Luật HN&GĐ năm 2000.

Về kết hôn Ở khu vực thành thị hầu như nam nữ đã tuân thủ điều kiện kết hôn. Độ tuổi kết hôn đã được thực hiện nghiêm chỉnh. Theo số liệu điều tra biến động dân số thì "ở thành thị tuổi kết hôn trung bình của nam là 27,1 tuổi, nữ là 24,5 tuổi. Ở nông thôn, tuổi kết hôn trung bình ở nam là 24,6 tuổi, còn ở nữ là 22 tuổi" [66].

Hiện tượng tảo hôn tuy vẫn còn nhưng chủ yếu ở một số vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số và một số vùng nông thôn còn tồn tại hủ tục hoặc do trình độ dân trí cũng như nhận thức của người dân về hậu quả của việc tảo hôn còn chưa cao. Ví dụ: ở xã Đắc Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk lắk (nơi cư trú của đồng bào dân tộc Mông, K’Ho, Mường là chủ yếu), Ông A Nhè, Trưởng thôn 2, xã Đắk Som cho biết: "Dân vùng này vẫn quan niệm nếu con trai quá 16 tuổi chưa lấy vợ là loại người chơi bời, lêu lổng, không lo lập gia đình để tu chí làm ăn. Con gái 14-15 tuổi chưa lấy chồng thì bị chê là đã quá lứa mà không biết học cách sinh con" [40]. Theo Phó Bí thư Xã đoàn Đắk Som thì: "Chúng tôi cũng biết Luật Hôn nhân - Gia đình nhưng phong tục của người Mông, người Mường đã có từ lâu đời rồi nên không thể bỏ được.

Luật là một chuyện nhưng phong tục lại là một chuyện khác" [40]. Đây chính là 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn hiện nay vẫn còn và khá phổ biến ở các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Về sự tự nguyện trong hôn nhân: Ngày nay, nam nữ kết hôn dựa trên sự tự nguyện, hầu như không còn tình trạng "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" như thời kỳ phong kiến. Hôn nhân ngày nay xuất phát từ tình yêu, sự tìm hiểu lẫn nhau giữa nam và nữ.

Cha mẹ chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong việc thực hiện các nghi lễ kết hôn chứ không quyết định hôn nhân của con cái. Về thủ tục kết hôn cũng được người dân thực hiện tốt. Các quy định về việc đăng ký kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 đã cụ thể hơn và mang tính ràng buộc cao hơn. Yêu nhau, lấy nhau và đăng ký kết hôn đã đi vào nhận thức của người dân.

Tỷ lệ nam nữ đăng ký kết hôn ngày càng cao. Ở khu vực thành thị hầu hết nam nữ khi kết hôn có đăng ký kết hôn. Tình trạng không có đăng ký kết hôn chỉ xảy ra ở một số tỉnh có dân tộc thiểu số hoặc khu vực nông thôn. Ở các vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số do điều kiện đi lại khó khăn và nhận thức về tầm quan trọng của việc đăng ký kết hôn chưa cao.

Hôn nhân ở các dân tộc này chỉ cần gia đình công nhận và chỉ coi đăng ký kết hôn là thủ tục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ