Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Khái niệm Bước vào thế kỷ XX, hầu hết các nước phát triển đều thực hiện cơ chế một ngân hàng độc quyền phát hành tiền, song các ngân hàng này vẫn thuộc sở hữu tư nhân. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 và sự phát triển của học thuyết Keynes đã làm thay đổi căn bản sự nhận thức của các quốc gia về vai trò của ngân hàng trung ương trong nền kinh tế.
Tiền ngày càng trở nên quan trọng. Các chính phủ nghĩ rằng, cần phải nắm lấy ngân hàng phát hành - ngân hàng duy nhất phát hành đồng tiền quốc gia. Do vậy, các nước đã lần lượt biến ngân hàng phát hành thuộc sở hữu tư nhân thành ngân hàng của Nhà nước bằng cách quốc hữu hóa hoặc thành lập mới các ngân hàng phát hành. Một số nước ngân hàng phát hành không hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước nhưng hoạt động vẫn mang tính chất sở hữu nhà nước do bộ phận điều hành cao nhất của ngân hàng phát hành do nhà nước bổ nhiệm.
Các ngân hàng phát hành, qua quá trình cải biến đã trở thành Ngân hàng Trung ương (NHTW) từ khoảng giữa thế kỷ XX. Kể từ đây, hệ thống ngân hàng được định hình rõ rệt bao gồm 2 bộ phận cấu thành là NHTW và ngân hàng trung gian. Sự ra đời của NHTW là một quá trình lịch sử lâu dài, gắn liền với quá trình phát triển và phân hóa trong hệ thống ngân hàng. Tất cả các quốc gia, phương thức tổ chức và tên gọi có thể khác nhau 4 nhưng tính chất hoạt động và vai trò của các NHTW cơ bản là giống nhau.
Tùy theo quan điểm của từng nước và mức độ phát triển của nền kinh tế, vị trí, quy mô của NHTW được xác định theo cách này hoặc cách khác. Vì thế, có những NHTW nhỏ, tầm hoạt động đơn giản và hạn hẹp, nhưng cũng có những NHTW đầy quyền lực với những hoạt động tinh vi và phức tạp, có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (viết tắt là NHNN) là NHTW của Việt Nam. Điều 1 Nghị định 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý Nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước”.
Chức năng của Ngân hàng Trung ương NHTW có thể được tổ chức theo các mô hình khác nhau nhưng nhìn chung đều có mục tiêu là ổn định giá trị đồng tiền cả về đối nội và đối ngoại, tạo điều kiện phát triển kinh tế, kiểm soát hệ thống ngân hàng, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động theo quy định của pháp luật, ổn định, an toàn và hiệu quả. Để đạt được các mục tiêu này, NHTW hoạt động theo các chức năng sau: 1.1 Phát hành tiền NHTW khi ra đời và hoạt động đã trở thành trung tâm phát hành tiền duy nhất của mỗi quốc gia. Toàn bộ tiền mặt pháp định đều do NHTW phát hành theo chế độ độc quyền phát hành tiền của Nhà nước. Tiền này có hiệu lực sử dụng bắt buộc trong toàn quốc như là phương tiện trao đổi.
Vì tiền mặt được 5 xem là loại tiền mạnh nhất trong hệ thống tiền tệ, hơn nữa, thông qua nó, tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn được hình thành. Cho nên, hoạt động cung ứng tiền của NHTW tác động một cách trực tiếp đến độ tăng, giảm của tổng cung tiền tệ trong nền kinh tế, qua đó ảnh hưởng đến cả sản xuất và tiêu dùng. Ngân hàng của các ngân hàng Với vai trò là Ngân hàng trung tâm của các Ngân hàng và hệ thống tài chính trong mỗi quốc gia, NHTW thực hiện một số công việc quan trọng cho các ngân hàng, đó là: - NHTW cấp giấy phép kinh doanh tiền tệ cho các ngân hàng, đồng thời xử lý các vụ vi phạm luật lệ ngân hàng. - NHTW có quyền quyết định, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà các ngân hàng phải thi hành.
- NHTW tiến hành thanh tra, kiểm soát các ngân hàng nhằm giúp cho các ngân hàng lành mạnh, trên cơ sở đó bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và lợi ích chung của nền kinh tế. - NHTW ấn định lãi suất, lệ phí, hoa hồng áp dụng cho các ngân hàng, quy định các thể lệ điều hành các nghiệp vụ. - NHTW mở tài khoản giao dịch và tổ chức thanh toán bù trừ cho các ngân hàng: là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng, NHTW chịu trách nhiệm ban hành các hình thức thanh toán, các chế độ, quy trình kế toán thanh toán cho toàn bộ hệ thống ngân hàng áp dụng. Đồng thời, chính NHTW là người tổ chức và chủ trì thanh toán cho các ngân hàng trung gian khi họ có các khoản thanh toán lẫn nhau và cùng tìm đến NHTW để thực hiện việc thanh toán.
Việc thanh toán qua NHTW có thể được thực hiện bằng thanh toán từng lần hoặc thanh toán bù trừ. - NHTW tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới hình thức cho vay thế chấp hay ứng trước; chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá. 6 - Cung cấp các thiết bị ngân hàng cho các ngân hàng trung gian. NHTW là Ngân hàng của Chính phủ Là một định chế tài chính công cộng, NHTW được xác định ngay từ khi ra đời là ngân hàng của Chính phủ.
Các giao dịch tiền tệ của Chính phủ trong và ngoài nước thường phải thông qua NHTW. Đồng thời, NHTW phải thực hiện rất nhiều công việc cho Chính phủ như: Mở tài khoản và đại lý tài chính cho Chính phủ; Thanh toán cho Kho bạc Nhà nước; thay mặt chính phủ quản lý các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng; Cố vấn cho Chính phủ về các chính sách kinh tế tài chính, tiền tệ và đại diện cho Nhà nước tại các tổ chức Tài chính quốc tế; Quản lý dự trữ quốc gia về ngoại tệ, vàng bạc. và tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước trong những trường hợp cần thiết. HOẠT ĐỘNG CỦA QTD ND CƠ SỞ VÀ CÁC RỦI RO CƠ BẢN 1.
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Quỹ tín dụng Nhân dân (QTDND) là một loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) hợp tác, được Chính phủ cho phép thành lập từ năm 1993 nhằm góp phần đa dạng hoá loại hình TCTD hoạt động trên địa bàn nông thôn, tạo lập một mô hình kinh tế hợp tác xã kiểu mới hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng có sự liên kết chặt chẽ vì lợi ích của thành viên QTDND, góp phần xoá đói giảm nghèo, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn.Đây thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn. - Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển. 7 Theo khoản 6 điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động Ngân hàng theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Số lượng thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân không hạn chế, nhưng tối thiểu phải có 30 thành viên. [34] - Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân + Tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân và các đối tượng khác có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 21 Nghị định này đều có thể trở thành thành viên Quỹ tín dụng nhân dân; thành viên có quyền ra khỏi Quỹ tín dụng nhân dân theo quy định của Điều lệ Quỹ tín dụng nhân dân. + Dân chủ, bình đẳng và công khai: thành viên Quỹ tín dụng nhân dân có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát Quỹ tín dụng nhân dân và có quyền ngang nhau trong biểu quyết. + Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi : Quỹ tín dụng nhân dân tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình; tự quyết định về phân phối thu nhập.
Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của Quỹ tín dụng nhân dân, lãi được trích một phần vào các quỹ của Quỹ tín dụng nhân dân, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của thành viên, phần còn lại chia cho thành viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của Quỹ tín dụng nhân dân. + Hợp tác và phát triển cộng đồng : thành viên phải phát huy tinh thần xây dựng tập thể và hợp tác với nhau trong Quỹ tín dụng nhân dân, trong cộng đồng xã hội; hợp tác giữa các Quỹ tín dụng nhân dân ở trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật”. - Hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân 8 + Huy động vốn Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được vay vốn của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.” + Hoạt động tín dụng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay đối với thành viên và các hộ nghèo không phải là thành viên trong địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.