CHƯƠNG 1. Tổng quan về họ hồ tiêu Họ hồ tiêu (Piperaceae) là một họ thực vật chứa trên 2 000 loài, được nhóm trong 9 chi. Chúng là các loại cây bụi hay dây leo ở khu vực nhiệt đới. Các loài của họ này nói chung có hoa được chia thành chuỗi, thông thường có mùi thơm rất mạnh, cay nồng.
Quan trọng nhất về mặt kinh tế trong họ này bao gồm các loại cây ăn hạt, lá như tiêu, trầu, lá lốt (Hình 1. Cây lá lốt Tiêu ăn hạt Cây trầu không Tiêu núi Hình 1. Một số loại cây thuộc họ hồ tiêu 1. Giới thiệu về cây trầu không 1.
Sơ lược về cây trầu không trong giới thực vật - Tên khoa học của cây trầu là Piper betle (Hình 1. Cây trầu còn được gọi là trầu không, betel Baum (Đức), árbol de betel (Tây Ban Nha), arbre de betel (Pháp), pokok sirih (Malaisia), Betel Boom (Hà Lan). 4 Sinh viên thực hiện: Nguyễn Kim Chi - Phân loại khoa học: Giới : Plantae Bộ : Angiospermae Họ : Magnoliidae Chi : Piperales Loài : Piper Hình 1. Cây trầu không ➢ Phân bố [15] Trầu không có nguồn gốc ở miền Trung và Đông Malaysia; được trồng từ 2500 năm trước, sau lan sang Madagasca và Đông Phi.
Ở Trung Quốc, trầu không cũng được ghi chép từ đời nhà Tần 618 – 907 sau Công nguyên. Đến đầu thế kỷ 15, cây bắt đầu được đưa sang châu Âu. Ngày nay, trầu không không còn gặp ở trang thái hoang dại; mà đã được trồng phổ biến khắp các nước nhiệt đới ở vùng Nam Á và Đông Nam Á như Ấn Độ, Srilanca, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Campuchia, Việt Nam, Lào, Nam Trung Quốc và đảo Hải Nam [12]. Ở Việt Nam, trầu không cũng được nhắc đến trong truyện cổ “Trầu – Cau” từ thời các vua Hùng, cách đây khoảng 2000 năm.
Hiện nay cây được trồng ở khắp nơi (trừ vùng núi cao lạnh, trên 1500m) như vườn các gia đình, trang trại (ở miền Nam) và cả trên các cánh đồng. Việc trồng trầu không ở Việt Nam cũng như ở các nước châu Á khác thường gắn với tục ăn trầu của người dân. Trầu không thuộc loài cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng; sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm, nhiệt độ trung bình từ 220C đến 260C; lượng mưa 2000 – 3500mm/năm (hoặc trên 4000mm/năm ở Malaysia). Trầu không thích nghi với các loại đất giàu chất hữu cơ, có thành phần sét cao, với pH từ 6 đến 7.
Do đặc điểm của loại cây leo bám, nên trồng trầu không phải có giá thể (thân cây gỗ, cây cau, tường nhà) hoặc có giàn đỡ. Cây trồng được 3 – 4 năm mới thấy có hoa quả; hiện chưa quan sát được cây con mọc từ hạt, song trầu không lại có khả năng tái sinh dinh dưỡng rất khỏe. 5 Sinh viên thực hiện: Nguyễn Kim Chi Trầu không là một cây trồng quan trọng. Trải qua lịch sử lâu đời về trồng trọt, hiện nay, quần thể trầu không có nhiều giống khác nhau.
Ở Viện thực vật học quốc gia Ấn Độ người ta đã thu thập được 85 loại trầu không. Ấn Độ là nước trồng trầu không nhiều nhất thế giới (khoảng 50.000ha), sau đến Bangladesh (12. Riêng Thái Lan, sản lượng trầu không hàng năm dành cho xuất khẩu đến 4500 tấn, tương đương 3,7 triệu đô la Mỹ. ➢ Mô tả thực vật - Đặc điểm thực vật học: Trầu không là một cây mọc leo, thân nhẵn.
Lá mọc so le, cuống có bẹ, dài 1,5 - 3,5cm, phiến lá hình trái xoan, dài 10 - 13cm, rộng 4,59cm, phía cuống hình tim (đối với những lá phía gốc) đầu lá nhọn, khi soi lên thấy rất nhiều điểm chứa tinh dầu rất nhỏ, gân lá thường có năm gân. Hoa khác gốc mọc thành bông có cuống dài bằng cuống lá, mọc đối diện với lá, hoa đơn tính. Bông đực dài bằng phiến lá, trục bông phủ lông, lá bắc không cuống, không có lông, hình tròn hoặc hình trứng ngược. Nhị hoa, bao phấn hình bầu dục, chỉ nhị ngắn.
Bông cái ngắn hơn, trục phủ lông. Quả mọng, lồi, tròn, có những lông mềm ở đỉnh. Toàn cây có mùi thơm cay [7]. - Ở Việt Nam có 2 loại trầu chính là trầu mỡ và trầu quế.
Lá trầu mỡ to bản, dễ trồng. Trầu quế có vị cay, nhỏ lá, được ưa chuộng hơn trong tục ăn trầu. Trầu không được trồng bằng dây vào mùa xuân, người ta làm giàn cho cây leo lên. Cây trầu không ưa ẩm và Ca(OH)2, nên người ta thường trồng sát tường, cạnh bể nước để thuận tiện cho việc tưới và bón thêm vôi cũ.
Lá được thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô, có khi tán bột dùng dần [6]. Công dụng của lá trầu không với sức khoẻ [16] a) Theo Y học hiện đại Theo Y học hiện đại, lá trầu không có tác dụng: • Kháng khuẩn, diệt virus tốt. • Có khả năng tiêu diệt khối u trong thực nghiệm động vật. • Thành phần Chavicol có tác dụng khử trùng tốt.
6 Sinh viên thực hiện: Nguyễn Kim Chi • Tác dụng kháng sinh mạnh đối với trực trùng coli, tụ cầu khuẩn, song cầu khuẩn, liên cầu khuẩn. b) Theo Y học cổ truyền Theo Y học cổ truyền, lá trầu không có vị cay nồng, mùi thơm gắt, tính ấm. Từ đó, có tác dụng lưu thông khí huyết, hỗ trợ điều trị đờm, trừ phong thấp, tiêu viêm và sát trùng. Ngoài ra, người ta còn sử dụng dược liệu này với các công dụng như: • Trị đau bụng, đầy hơi, ợ hơi, sôi bụng.
• Trị cảm mạo, hen suyễn khi thời tiết thay đổi, đờm nhiều khó thở, bỏng. • Cải thiện tình trạng mụn nhọt, trị ghẻ ngứa, rôm sảy, mề đay. • Điều trị đau răng, viêm chân răng có mủ. • Dùng để chữa bong gân, sai khớp, chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh.
Ở Ấn Độ, người dân còn sử dụng lá và tinh dầu loại cây này để điều trị bệnh xuất tiết, bệnh phổi, làm thuốc súc miệng. Ngoài ra, dược liệu này còn là thành phần quan trọng trong các chế phẩm thuốc cổ truyền Ấn Độ với công dụng điều trị hen suyễn. c) Theo một số tài liệu nước ngoài [9] Theo một số tài liệu nước ngoài, trầu không còn được biết đến với công dụng: - Lá: Vị đắng, làm chát và nóng, được biết đến với tác dụng kích thích sự thèm ăn, giảm đờm, kiểm soát đầy hơi, thúc đẩy sức sống và sức mạnh, trung hòa độc, hỗ trợ chức năng tim và ruột, chữa ho và bệnh tim. - Trẻ em được cho uống hỗn hợp mật ong và nước ép từ lá nghiền nát để giảm chứng khó tiêu, đầy hơi, tiêu chảy, sốt và các bệnh khác.
Nước ép từ lá nghiền nát là dùng với sữa như một phương thuốc chữa đau khổ về cảm xúc liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt. - Hỗn hợp nước ép từ lá nghiền nát, muối mỏ và nước sắc gừng dùng chữa hen suyễn, đau tức ngực, khó tiêu và ho gà. - Rang lá đến khi nhũn nhưng không khô, để nguyên hoặc bôi dầu dừa đắp vào chỗ mềm trên đầu trẻ em để chữa sổ mũi. 7 Sinh viên thực hiện: Nguyễn Kim Chi 1.
Công dụng của lá trầu không với hệ tiêu hoá [16] Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các thành phần trong lá trầu không có công dụng ức chế nhiều chủng vi khuẩn như: tụ cầu khuẩn, phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn…có tác dụng rất tốt cho hệ tiêu hoá, cụ thể: a) Tác dụng cải thiện táo bón Trong lá trầu không có chứa rất nhiều chất chống oxy hoá, có tác dụng tiêu diệt các gốc tự do trong cơ thể, đồng thời khôi phục lại mức pH bình thường trong dạ dày. Nhờ đó, chứng táo bón được xoa dịu đáng kể. b) Khắc phục tình trạng khó tiêu Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, lá trầu không có khả năng cải thiện chuyển hoá trong cơ thể, kích thích sự tuần hoàn bên trong ruột giúp hấp thu các khoáng chất và vitamin từ thức ăn tốt hơn. Bên cạnh đó, lá trầu không cũng có tác dụng kích thích với cơ vòng, từ đó giúp loại bỏ chất thải dễ dàng hơn do cơ vòng hoạt động hiệu quả.
c) Hạn chế tình trạng đầy hơi, chướng bụng Lá trầu không là một trong những vị dược liệu có tác dụng kiểm soát chứng trào ngược dạ dày thực quản hiệu quả. Cơ chế hoạt động của dược liệu này là giữ cho tá tràng luôn được an toàn trước sự tấn công của chất độc và các gốc tự do gây hại. Qua đó, lượng acid dạ dày được giữ ở mức cân bằng, làm dịu cảm giác đầy hơi, chướng bụng. d) Tăng cảm giác đói Không ít người bị rối loạn tiêu hoá, viêm đại tràng có cảm giác chán ăn.
Nguyên nhân là do lượng pH trong dạ dày mất cân bằng khiến cho hormone tạo cảm giác đói không tiết ra. Trong khi đó, lá trầu có khả năng khôi phục và cân bằng nồng độ pH trong dạ dày, từ đó, bạn sẽ cảm nhận được sự thèm ăn. Các bài thuốc chữa bệnh từ lá trầu không Lá trầu không được sử dụng nhiều trong các bài thuốc dân gian, có thể kể đến như: − Bài thuốc chữa vết thương. − Chữa mụn nhọt từ trầu không.
− Trầu không điều trị đau họng, viêm họng. − Bài thuốc trầu không ngăn ngừa sâu răng. − Bài thuốc trầu không điều trị đầy bụng, khó tiêu. 8 Sinh viên thực hiện: Nguyễn Kim Chi − Bài thuốc điều trị đái tháo đường.
− Bài thuốc trị côn trùng, rôm sảy, hắc lào. − Bài thuốc chữa nám da mặt. Tổng quan về tinh dầu [1] Với lịch sử phát triển hàng ngàn năm, tinh dầu thiên nhiên được xem là một loại tinh dầu tốt cho sức khoẻ, là tủ thuốc của tự nhiên được phát triển thành phương pháp trị liệu, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp trên toàn thế giới. Giữa thế kỉ 19, tinh dầu được tập trung nghiên cứu và trở thành một phương pháp trị liệu tổng thể và phổ cập tại nhiều nước như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh, Pháp… Có nhiều tài liệu cho rằng, tinh dầu đã được chiết xuất và sử dụng cách đây khoảng 6.
Người Ai Cập cổ đại từ xưa đã biết dùng các phương pháp chiết xuất để tạo ra hương liệu và tạo ra mùi thơm từ các thực vật thiên nhiên. Không chỉ đến ngày nay, tinh dầu mới được sử dụng rộng rãi với mục đích làm đẹp. Người Hy Lạp cổ đại đã sử dụng các hương liệu và chiết xuất tinh dầu để phục vụ cho việc trang điểm và làm đẹp. Khái niệm [1] Tinh dầu là hỗn hợp nhiều cấu tử dễ bay hơi, có mùi thơm hay mùi hắc khó chịu được tách ra từ các bộ phận của thực vật, là sản phẩm của quá trình chưng cất và chiết nguyên liệu.