Luận văn thạc sĩ thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam

Luận văn thạc sĩ phân tích thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

86
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân

Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015. Theo đó, CQĐT VKSND có thẩm quyền điều tra các tội phạm liên quan đến xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, và chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp. Đối tượng điều tra chủ yếu là cán bộ, công chức thuộc các cơ quan tư pháp như CQĐT, Tòa án, VKS, và cơ quan thi hành án. Thẩm quyền điều tra này nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong hoạt động tư pháp, đồng thời góp phần phòng, chống tội phạm và tham nhũng.

1.1. Quy định pháp luật về thẩm quyền điều tra

Theo Điều 163 BLTTHS 2015, CQĐT VKSND có thẩm quyền điều tra các tội phạm liên quan đến xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, và chức vụ. Điều này phản ánh sự phân định rõ ràng về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan tư pháp, tránh sự chồng chéo và đảm bảo hiệu quả trong công tác điều tra. Quy định này cũng nhấn mạnh vai trò của VKSND trong việc giám sát và đảm bảo tính hợp pháp của các hoạt động tư pháp.

1.2. Thực tiễn áp dụng thẩm quyền điều tra

Trong thực tiễn, CQĐT VKSND đã thực hiện thẩm quyền điều tra một cách hiệu quả, đặc biệt trong các vụ án liên quan đến tham nhũngxâm phạm hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp. Những hạn chế này cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả của quy trình điều tra và đảm bảo công lý.

II. Quy trình điều tra và nguyên tắc điều tra

Quy trình điều tra của CQĐT VKSND được thực hiện theo các nguyên tắc điều tra được quy định trong BLTTHS. Các nguyên tắc này bao gồm tính khách quan, toàn diện, và tuân thủ pháp luật. Quy trình điều tra bao gồm các giai đoạn từ khởi tố, thu thập chứng cứ, đến kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát để truy tố. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc điều tra giúp đảm bảo tính chính xác và công bằng trong quá trình giải quyết vụ án.

2.1. Các giai đoạn điều tra

Quy trình điều tra được chia thành các giai đoạn cụ thể: khởi tố, điều tra, và kết thúc điều tra. Mỗi giai đoạn đều có những yêu cầu và thủ tục riêng, đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp. Các giai đoạn điều tra này được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ của Viện kiểm sát để tránh sai sót và đảm bảo quyền lợi của bị can.

2.2. Nguyên tắc điều tra

Các nguyên tắc điều tra bao gồm tính khách quan, toàn diện, và tuân thủ pháp luật. Nguyên tắc này đảm bảo rằng mọi hoạt động điều tra đều được thực hiện một cách công bằng và minh bạch, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan. Việc tuân thủ các nguyên tắc điều tra là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính hợp pháp của quá trình điều tra.

III. Giải pháp hoàn thiện thẩm quyền điều tra

Để nâng cao hiệu quả thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSND, cần có các giải pháp hoàn thiện về mặt pháp luật và thực tiễn. Các giải pháp này bao gồm việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, tăng cường nguồn lực cho CQĐT, và nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ điều tra. Những giải pháp này sẽ góp phần đảm bảo tính hiệu quả và công bằng trong hoạt động điều tra, đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

3.1. Hoàn thiện pháp luật

Việc hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền điều tra cần tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành để phù hợp với thực tiễn. Điều này bao gồm việc phân định rõ ràng hơn về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan tư pháp và đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

3.2. Nâng cao hiệu quả thực tiễn

Để nâng cao hiệu quả thực tiễn, cần tăng cường nguồn lực cho CQĐT, bao gồm cả nhân lực và vật lực. Đồng thời, cần nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ điều tra thông qua các chương trình đào tạo và bồi dưỡng. Những giải pháp này sẽ giúp CQĐT VKSND thực hiện thẩm quyền điều tra một cách hiệu quả hơn.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I thông tư số 427/TTLB ngày 28.1963 của VKSNDTC và Bộ Công an đã quy định: "…Viện kiểm sát sẽ trực tiếp điều tra một số loại phạm pháp về kinh tế và trị an xã hội mà kẻ phạm pháp và hành vi vi phạm đó tương đối rõ ". Năm 1978, Vụ điều tra thẩm cứu được thành lập trên cơ sở Phòng điều tra thẩm cứu VKSNDTC. Còn ở VKS địa phương thì công tác điều tra thuộc nhiệm vụ của các đơn vị kiểm sát điều tra (Điều 5 Pháp lệnh ngày 16/4/1962 và Pháp lệnh sửa đổi ngày 15/01/1970). Đến năm 1981, Luật tổ chức VKSND được ban hành, thẩm quyền điều tra của VKSND đã được quy định rõ ràng hơn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật tổ chức VKSND năm 1981 thì: ".Trong trường hợp do pháp luật quy định thì Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp tiến hành điều tra". Đó là các vụ án do Viện trưởng VKS cấp trên giao và các vụ án Viện trưởng VKS 16 thấy cần thiết phải trực tiếp điều tra theo quy định tại Thông tư số 01/TTLB ngày 23.1984 giữa VKSNDTC và Bộ nội vụ (nay là Bộ công an) về quan hệ giữa hai ngành Kiểm sát và Công an trong công tác điều tra và kiểm sát điều tra. Trên thực tế, các trường hợp cần thiết được xác định là: Do yêu cầu chính trị và cấp ủy giao hoặc khi xét thấy các vụ án do cơ quan Công an điều tra không được khách quan, toàn diện, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật tới mức nếu để họ tiếp tục điều tra sẽ dẫn đến oan sai, bỏ lọt tội phạm và dư luận xã hội không đồng tình. Để thực hiện nhiệm vụ này, từ năm 1984, ngoài Vụ điều tra thẩm cứu tại VKSNDTC, Viện trưởng VKSNDTC ra quyết định thành lập 04 Phòng điều tra thẩm cứu ở các VKSND Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Nam - Đà Nẵng.

VKS địa phương các cấp cũng đã tiến hành các hoạt động điều tra; cách tổ chức thực hiện hoạt động điều tra thời điểm đó là khi cần thiết thì thành lập một tổ để điều tra và người thực hiện điều tra là các cán bộ, Kiểm sát viên của Phòng kiểm sát điều tra kiêm nhiệm thực hiện. Như vậy giai đoạn 1960 – 1988 đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử TTHS, bằng việc Hiến pháp, pháp luật quy định thẩm quyền điều tra của VKSND, trong đó đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ điều tra là Vụ điều tra thẩm cứu. Hoạt động điều tra của VKSND có tính độc lập tương đối hơn so với trước đây góp phần tăng cường hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tránh làm oan người vô tội. Giai đoạn 1988-2003 (theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988) BLTTHS đầu tiên của nước ta - BLTTHS năm 1988 đã quy định rõ CQĐT của VKSND là một trong hệ thống các CQĐT.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 92 BLTTHS 1988 quy định về thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSND là: Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra trong những trường hợp sau đây, khi Viện trưởng xét thấy cần thiết: 17 a) Khi phát hiện việc điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng; b) Khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật, phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng, không cần thiết phải chuyển cho cơ quan điều tra khác; c) Khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể giao cho cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra trong những trường hợp khác. Cụ thể hóa quy định trên, thông tư số 79-VKSND/TT ngày 15/9/1989 của Viện trưởng VKSNDTC ban hành đã hướng dẫn cụ thể thế nào là "những việc mà Viện trưởng VKS xét thấy cần thiết" là: Trường hợp Cơ quan điều tra khác điều tra nhưng có vi phạm pháp luật hoặc làm oan, bỏ lọt tội phạm; thông qua công tác kiểm sát chung mà phát hiện thấy có dấu hiệu tội phạm; một số tội phạm trong hoạt động tư pháp và những vụ án khác do Viện trưởng xét thấy cần thiết và tiến hành xác minh những vụ án theo trình tự tái thẩm thuộc thẩm quyền kháng nghị của Viện trưởng VKS. Để phù hợp với quy định của pháp luật, Vụ điều tra thẩm cứu VKSND tối cao được đổi tên thành Cục điều tra. Từ đây, CQĐT VKSND đã trở thành hệ thống CQĐT chuyên trách, độc lập trong hoạt động tố tụng và có sự phân cấp về thẩm quyền điều tra bao gồm: VKSNDTC và VKSND cấp tỉnh (không còn ở VKSND cấp huyện).

Với sự ra đời của BLTTHS 1988 đã mở rộng thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSND, đảm bảo quyền chủ động cho CQĐT VKSND trong việc thực hiện thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự, hạn chế các vi phạm pháp luật xảy ra trong quá trình tiến hành tố tụng, góp phần làm trong sạch bộ máy tư pháp. Tuy nhiên, đến năm 2000 với định hướng cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp theo tinh thần tại Thông báo số 136/TB-TW ngày 25.1996 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 01 ngày 10.2000 của Viện trưởng 18 VKSNDTC về công tác điều tra của CQĐTVKSND thì thẩm quyền của CQĐT VKSND đã có sự thay đổi, cụ thể: Thực hiện đổi mới Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng tăng cường tổ chức và hoạt động của Cục điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chỉ để lại phòng điều tra Viện kiểm sát cấp tỉnh ở những nơi xét thấy thật cần thiết. Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân chỉ tập trung vào việc điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ của các cơ quan tư pháp [51, tr. Như vậy, giai đoạn 1988 - 2003 với sự ra đời của BLTTHS năm 1988 và các văn bản pháp luật khác, CQĐT VKSND đã trở thành hệ thống CQĐT chuyên trách, độc lập trong hoạt động TTHS.

BLTTHS năm 1988 đã quy định cụ thể và rõ ràng thẩm quyền của CQĐT VKSND. Tuy thẩm quyền của CQĐT VKSND đã có sự thay đổi theo hướng thu hẹp thẩm quyền từ năm 2000, nhưng nhìn chung hoạt động của CQĐT VKSND thời kỳ này đã góp phần hạn chế việc vi phạm pháp luật của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật. Giai đoạn 2003 đến 2014 (theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) Đến BLTTHS năm 2003, quy định về phân cấp thẩm quyền điều tra của VKSND có sự thay đổi, cụ thể các phòng điều tra cấp tỉnh đều giải thể, CQĐT của VKSND chỉ được tổ chức ở VKSNDTC (Cục điều tra) để phù hợp theo tinh thần chủ trương cải cách tư pháp của Đảng tại Nghị quyết số 08/NQ- TW của Bộ Chính trị, với định hướng VKS không thực hiện chức năng kiểm sát chung (kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế). Vì vậy, thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSND đã bị thu hẹp hơn rất nhiều so với BLTTHS 1988, cụ thể tại khoản 3 Điều 110 BLTTHS 2003 quy 19 định: "Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp".

Nhằm thống nhất thực hiện quy định của BLTTHS năm 2003 về thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSND, nâng cao hiệu quả công tác điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Viện trưởng VKSNDTC đã ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Cục điều tra ban hành kèm theo Quyết định số 1169/QĐ-VKSTC-C6 ngày 19.2010 (gọi tắt là Quy chế 1169), thì CQĐT VKSNDTC có thẩm quyền điều tra các tội phạm sau đây:(1) Các xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXII của BLHS mà người phạm tội là cán bộ của các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND; (2) Các tội phạm có nguồn gốc phát sinh từ việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp hoặc liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp hoặc liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.) ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; (3) Hành vi phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phạm tội có liên quan đến vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSNDTC đang khởi tố, điều tra. Mặc dù chỉ là quy chế nhưng do nội dung quy chế đã thể hiện cụ thể, rõ ràng thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSNDTC, được quy định của BLTTHS và được định nghĩa trong khái niệm tội phạm XPHĐTP tại Điều 292 BLHS, đã tạo ra hành lang pháp lý cho thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSNDTC. Với những đóng góp tích cực cho công cuộc cải cách tư pháp, đặc biệt là trong chống oan, sai, ngày 29/7/2013 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 640/NQ-UBTVQH13 phê chuẩn việc đổi tên gọi của Cục điều tra VKSNDTC 20 thành CQĐT VKSNDTC. Đó cũng là thể hiện sự chính quy, hiện đại, góp phần tăng thêm uy thế trong thực hiện thẩm quyền điều tra của một CQĐT có đối tượng điều tra đặc biệt (có trình độ hiểu biết về pháp luật, tố tụng…) mà quá trình điều tra các tội phạm này hết sức khó khăn, gặp nhiều trở ngại.

Như vậy, giai đoạn 2003 – 2014, thẩm quyền của CQĐT VKSND đã được quy định rõ ràng hơn, CQĐT VKSND có thẩm quyền điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại Chương XXII (Điều 292 đến Điều 314) BLHS 1999 và những loại tội phạm có nguồn gốc phát sinh hoặc liên quan đến thực thi nhiệm vụ của những người có chức danh pháp lý thuộc các cơ quan tư pháp (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Chấp hành viên) và người tiến hành tố tụng khác thuộc các ngành CAND, VKS, TAND, THA các cấp được quy định trong các bộ luật, luật tố tụng khi họ thực hiện nhiệm vụ hoặc tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động…ở bất cứ giai đoạn nào. Hoạt động của CQĐT VKSND thời kỳ này đã chuyển sang một bước ngoặt mới góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra tội phạm của VKSND, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và quyền hạn của cơ quan điều tra trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định pháp luật hiện hành mà còn nêu bật những thách thức và cơ hội trong việc thực thi quyền điều tra. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về quy trình điều tra, từ đó nâng cao nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong vụ án hình sự.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn thạc sĩ luật học kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam và thực tiễn tại thị xã sơn tây thành phố hà nội, nơi phân tích việc tuân thủ pháp luật trong áp dụng biện pháp tạm giam. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tỉnh lạng sơn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hình sự. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học thủ tục xét xử vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi sẽ cung cấp thông tin bổ ích về quy trình xét xử đặc biệt đối với đối tượng này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống tư pháp hình sự tại Việt Nam.