PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sức khỏe tốt là một mục tiêu quan trọng của giáo dục toàn diện học sinh, sinh viên trong các trường học. Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục sức khỏe cho thế hệ trẻ là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước, của mỗi gia đình và toàn xã hội. Trong nhiều năm qua, mối quan tâm này luôn được thể hiện qua các chính sách BHYT.
Những năm gần đây, sự quan tâm này càng được thể hiện rõ thông qua Luật bảo hiểm y tế được Quốc hội khóa XII, họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008. Luật BHYT là sự hoàn thiện các văn bản pháp luật về chính sách BHYT tại Việt Nam. Luật được xây dựng trên cơ sở kế thừa những chính sách được quy định bởi văn bản pháp luật trước về BHYT. Bên cạnh đó, Luật có những quy định mới.
Trước hết, Luật đã xác định lộ trình thực hiện BHYT toàn dân ở nước ta là mọi công dân Việt Nam đều có trách nhiệm tham gia BHYT, để đảm bảo hoàn thành lộ trình BHYT toàn dân vào năm 2014. Trong đó có những nhóm đối tượng được tham gia vào từng thời điểm khác nhau tùy theo lộ trình đã xác định. Theo đó, học sinh, sinh viên tham gia BHYT bắt buộc theo lộ trình đã đề ra bắt đầu từ ngày 01/01/2010. Làng Đại học Quốc Gia TPHCM là nơi tập trung một lượng lớn sinh viên ở trọ từ các địa phương khác nhau đến đây học tập.
Ngoài áp lực học tập các bạn còn phải bảo đảm và nâng cao sức khỏe của chính bản thân mình. Đây là điều kiện cần thiết để có thể hoàn thiện khóa học của mình tốt nhất, mang những kiến thức đã học để phục vụ đất nước sau này. Tuy nhiên, việc tham gia BHYT HS-SV nói chung và đặc biệt là sinh viên nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế. Vẫn còn một bộ phận lớn trong sinh viên chưa ý thức được hết một cách đầy đủ về tầm quan trọng của việc tham gia BHYT.
Hiện nay, xếp theo địa điểm ở trọ thì sinh viên được chia làm hai nhóm chính. Thứ nhất, sinh viên ở trọ tại KTX của ĐHQG. Thứ hai, là nhóm sinh viên ở trọ, bao gồm các nhà trọ trong làng ĐHQG và những nhà trọ ngoài làng ĐHQG. Theo đó, đối với nhóm sinh viên thứ nhất, phần lớn đều tham gia BHYT khi đăng kí thủ tục vào trọ tại đây.
Riêng đối với nhóm thứ hai, điều này không phải là dễ thực hiện. Do đó, không ít 5 sinh viên chưa chủ động trong việc tham gia BHYT. Bên cạnh đó, đối với những sinh viên đã tham gia BHYT vẫn còn tồn tại một thực tế là có rất ít sinh viên có khả năng tiếp cận với các dịch vụ KCB bằng BHYT. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của sinh viên khi tham gia BHYT hiện nay.
Chính những vấn đề trên đã tác động đến cách nhìn của chúng tôi, thúc đẩy chúc tôi tìm hiểu và thực thiện nghiên cứu về “Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của sinh viên ở trọ hiện nay_ nghiên cứu trường hợp sinh viên ở trọ tại làng Đại học Quốc gia” để có cách nhìn toàn diện hơn với vấn đề tham gia bảo hiểm ở sinh viên hiện nay. Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài 2. BHYT của một số nước trên thế giới BHYT là một loại hình khá phổ biến hầu như có mặt trên tất cả các quốc gia: Tại Hàn Quốc, BHYT có 3 loại hình khác nhau gồm: BHYT cho công chức, giáo viên và người phụ thuộc (10,4% dân số); BHYT cho người lao động trong ngành công nghiệp và người phụ thuộc (36% dân số); BHYT cho người lao động tự lập (50,1% dân số); đến năm 1998 chương trình Medicaid (trợ cấp y tế miễn phí) bao phủ 3,5% dân số còn lại. Hàn Quốc chỉ mất 12 năm bắt đầu từ năm 1977 đến năm 1989 để mở rộng BHYT xã hội tới toàn bộ dân số.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chế độ chính quyền quân sự, cùng với mô hình bảo hiểm đa dạng dựa trên nhiều tổ chức bảo hiểm tách biệt cho từng loại lao động khác nhau trong nền kinh tế, tất cả những điều này đã góp phần mở rộng nhanh chóng BHYT tại Hàn quốc1. Đối với Pháp, BHYT có tính bắt buộc và độc quyền kể cả những người nước ngoài cư trú tại đ â y đều phải đóng góp vào hệ thống BHYT này. Tất cả mọi người đều có thẻ khám bệnh, trẻ em trên 16 tuổi thì có thẻ riêng, trước đó đăng ký trên thẻ của cha mẹ. Hiện nay, người dân đi khám bệnh hoặc mua thuốc hầu như không phải trả tiền ngoại trừ các khoản đóng góp bắt buộc bắt đầu áp dụng từ năm 2005: như chuyển từ chế độ miễn phí hoàn toàn sang chế độ đóng góp - mỗi lần khám bệnh 1 Nguyễn Vinh Quang (2005), “Kinh nghiệm BHYT toàn dân”, Tạp chí BHXH Việt Nam, Tr.57 6 phải trả 1 euro, mỗi lọ thuốc sẽ đóng 0,5 euro.; đặt ra chế độ bác sỹ theo dõi; chế độ KCB hay mua thuốc của bệnh nhân1.
Ở Philippines, BHYT tự nguyện được thực hiện với các đối tượng là người lao động tự do và người nghèo. Các văn phòng Khu vực, Văn phòng các vùng đều có bộ phận “phát triển hội viên”- Đây là bộ phận có nhiệm vụ chính trong việc tổ chức thực hiện BHYT tự nguyện cho dân cư trong địa bàn phụ trách. Nhà nước mua thẻ BHYT cho người nghèo nhưng do phụ thuộc vào kinh phí (của Trung ương và địa phương) nên hiện tại mới có khoảng 5 triệu người nghèo được mua BHYT trong số gần 35 triệu người nghèo của Philippines (chiếm khoảng 1/7). Do vậy, số người nghèo còn lại cùng với các bộ phận dân cư khác phải tham gia BHYT tự nguyện.
Tổ chức triển khai BHYT chủ yếu thông qua các hình thức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, bằng tờ gấp, các hội nghị,. việc cán bộ xuống dân rất hạn chế do không đủ cán bộ. Chính quyền các cấp giữ vai trò quan trọng đối với quá trình tổ chức thực hiện BHYT tự nguyện, bằng các văn bản chỉ đạo của chính quyền các cấp khẳng định chính sách BHYT xã hội do Nhà nước tổ chức và thực hiện để nhân dân yên tâm tham gia. Mặt khác, giá dịch vụ y tế ở Philippines khá cao cũng là yếu tố tác động quan trọng đối với việc tham gia BHYT người dân2.
Còn tại Trung Quốc, BHYT có hai loại: BHYT ở nông thôn (hợp tác y tế nông thôn) và BHYT ở thành phố (bảo hiểm cho nhân viên nhà nước; bảo hiểm cho các xí nghiệp nhà nước; bảo hiểm cho những người ăn theo công nhân xí nghiệp; bảo hiểm cho các xí nghiệp tuyến quận, huyện; bảo hiểm cho các xí nghiệp tuyến xã, phường; bảo hiểm cho những người ăn theo công nhân địa phương). Có hơn 400 triệu người (40% dân số) được BHYT tại Trung Quốc. Cụ thể như sau: 22 triệu nhân viên nhà nước, 71 triệu công nhân xí nghiệp quốc doanh và 55 triệu người ăn theo, 136 triệu công nhân các xí nghiệp cấp huyện và 97 triệu người ăn theo, 30 triệu nông dân trong các hợp tác xã y tế nông thôn. Trong số 40% dân số được BHYT chỉ có 20% 1 Đặng Thảo (2008), “BHYT ở Pháp- Kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí BHXH Việt Nam, Tr.
52,56 2 Hoàng Kiến Thiết (2006), “Chính sách BHYT ở Philippines”, Tạp chí BHXH Việt Nam, Tr.53-54 7 được bảo hiểm tương đối đầy đủ, 20% còn lại chỉ được bảo hiểm một phần. Vấn đề làm thế nào để mở rộng bao phủ BHYT cả thành phố và nông thôn vẫn còn là một câu hỏi chưa có câu trả lời cụ thể. Trung Quốc xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân theo lộ trình đến 2011: Từ năm 2010, trên 90% người dân sẽ được nhận hỗ trợ 120 nhân dân tệ mỗi người để tham gia BHYT. Đồng thời xây dựng một hệ thống sản xuất và phân phối các thuốc chủ yếu, nâng cấp các trung tâm y tế vùng sâu vùng xa cũng như thu hẹp khoảng cách về chất lượng giữa thành thị và nông thôn 1.
Có thể thấy hầu hết các nước nói trên đã cố gắng mở rộng độ bao phủ của BHYT ra toàn quốc, nhưng tập trung chủ yếu ở các nhóm đối tượng trẻ em dưới 18 tuổi, nhóm người lao động, nghỉ hưu và nhân viên trong các tổ chức, cơ quan nhà nước; riêng đối với nhóm đối tượng trên 18 tuổi nhưng chưa có việc làm ổn định, chính thức để nuôi sống bản thân, thì chưa thấy đề cập đến một cách cụ thể. Vậy đối với Việt Nam thì sao? 2. BHYT ở Việt Nam Tại Việt Nam, chính sách BHYT chính thức được thực hiện theo nghị định 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ BHYT đánh dấu sự ra đời của BHYT ở nước ta2. Trải qua hơn 20 năm thực hiện, BHYT đã chứng minh sự cần thiết và từng bước trở thành một nhu cầu tất yếu của đời sống xã hội.
Các chính sách BHYT đã có những bước phát triển đáng kể và đang dần được hoàn thiện về cơ sở pháp lý cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân trong từng giai đoạn. * Những thay đổi về chính sách BHYT qua các giai đoạn + Giai đoạn 1: từ năm 1992 đến 28/9/1998. Giai đoạn này hệ thống BHYT ở Việt Nam được tổ chức và quản lý theo qui định của Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và điều lệ BHYT. BHYT Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động.
Đây là một chủ trương 1 Nguyễn Khang (Theo Today in Asia & Pacific) (2009), “Trung Quốc xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân”, Báo BHXH Việt Nam, Tr.11 2 Chính phủ (1992), Nghị định số 299/1999/HĐBT ngày 15 tháng 8 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành hệ thống BHYT Việt Nam. 8 lớn của Đảng và Nhà nước nhằm huy động sự đóng góp của các nhân, tập thể và cộng đồng xã hội vừa để tạo nguồn ngân sách y tế ổn định theo cơ chế trả trước, vừa là một hoạt động mang tính nhân đạo, nhiều người giúp một người khi bị ốm đau phải khám và điều trị1. Tuy nhiên do cơ cấu tổ chức và quản lý của hệ thống BHYT Việt Nam nên trong quá trình thực hiện nảy sinh một số tồn tại cơ bản là: Quyền lợi của người tham gia BHYT chưa được đảm bảo thống nhất trong cả nước.