ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe tốt là một mục tiêu quan trọng của giáo dục toàn diện học sinh, sinh viên trong các trƣờng học. Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục sức khỏe cho thế hệ trẻ là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nƣớc, của mỗi gia đình và toàn xã hội [24],[36]. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc về công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe thế hệ trẻ đƣợc thể hiện qua nhiều chính sách trong đó có chính sách bảo hiểm y tế học sinh. Những năm qua, bảo hiểm y tế học sinh đã góp phần tích cực trong việc củng cố và phát triển y tế trƣờng học.
Mặt khác, bảo hiểm y tế học sinh còn mang tính nhân văn, nhân đạo và cộng đồng với tinh thần tƣơng thân tƣơng ái “Mình vì mọi ngƣời, mọi ngƣời vì mình” [26], [39]. Bảo hiểm y tế là phƣơng thức phù hợp với nền kinh tế thị trƣờng, là biện pháp chi trả tiến bộ, văn minh, đảm bảo tính công bằng, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đại đa số ngƣời dân, nhất là ngƣời nghèo, tránh đƣợc nguy cơ đói nghèo phát sinh do viện phí. Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe ngƣời dân, góp phần thể chế hóa chủ trƣơng “Đầu tƣ bứt phá cho chăm sóc sức khỏe và chuyển dần từ đầu tƣ trực tiếp cho cơ sở y tế sang đầu tƣ trực tiếp cho ngƣời hƣởng thụ thông qua bảo hiểm y tế” [8],[45]. Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu vực Đông Bắc, là cửa ngõ giao lƣu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc bộ.
Cách thủ đô Hà Nội gần 80km về phía Bắc, Thái Nguyên có 2 diện tích tự nhiên 3.562,82km với dân số khoảng 1,1 triệu ngƣời. Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện). Thái Nguyên còn là trung tâm đào tạo lớn thứ ba trong cả nƣớc với 8 trƣờng đại học, 11 trƣờng cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâm dạy nghề, mỗi năm đào tạo đƣợc khoảng gần 100. Vì vậy, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho học sinh, sinh viên càng đƣợc các trƣờng và Bảo hiểm xã hội quan tâm hơn [48].
Trải qua hơn 15 năm triển khai bảo hiểm y tế tự nguyện cho học sinh, sinh viên các trƣờng đại học, cao đẳng trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên, bảo hiểm y tế đã mang lại nhiều lợi ích cho học sinh, sinh viên khi tham gia. Với số lƣợng lớn sinh viên nên vấn đề tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ mang tính chất xã hội, tính chất nhân đạo mà còn góp phần quan trọng chăm lo sức khỏe và tạo điều kiện cho sinh viên học tập tốt. Việc triển khai và phát triển bảo hiểm y tế trong sinh viên có mối quan hệ mật thiết tới sự hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về BHYT. Nghiên cứu vấn đề trên sẽ phát hiện đƣợc các thông tin quan trọng giúp cho việc cải thiện chất lƣợng công tác triển khai bảo hiểm y tế trong sinh viên của các trƣờng đại học, cao đẳng nói chung và nói riêng ở khu vực Tỉnh Thái Nguyên.
Với những lý do nhƣ trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên một số trƣờng đại học, cao đẳng tại Tỉnh Thái Nguyên (2006-2008)”. Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu những vấn đề sau: 1. Mô tả thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên một số trường đại học, cao đẳng tại Tỉnh Thái Nguyên. Tìm hiểu sự hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về bảo hiểm y tế.
Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm về các loại bảo hiểm * Bảo hiểm Bảo hiểm là hoạt động thể hiện việc ngƣời bảo hiểm đứng ra cam kết, bồi thƣờng theo qui luật thống kê cho ngƣời đƣợc bảo hiểm với điều kiện ngƣời tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho ngƣời bảo hiểm [43]. * Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc bị giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quĩ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của ngƣời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội [4], [43]. * Bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế là một loại hình bảo hiểm mà cơ quan bảo hiểm chi trả các chi phí y tế do các nguyên nhân hoặc tai nạn đã đƣợc bảo hiểm cho ngƣời đƣợc bảo hiểm y tế khi ngƣời đƣợc bảo hiểm y tế bị ốm đau [43].
Các loại hình bảo hiểm ở Việt Nam 1. Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là chính sách xã hội của Nhà nƣớc nhằm tạo lập quỹ tập trung trợ giúp cho ngƣời lao động bao gồm các chế độ trợ cấp sau: hƣu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, dƣỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Đặc trƣng cơ bản của bảo hiểm xã hội: - Bảo hiểm cho ngƣời lao động trong và sau quá trình lao động. - Bảo hiểm cho các rủi ro có liên quan đến thu nhập nhƣ: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
mà những rủi ro này làm cho ngƣời lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập. - Ngƣời lao động và chủ sở hữu lao động phải có nghĩa vụ đóng góp hình thành quỹ bảo hiểm xã hội. - Các hoạt động bảo hiểm xã hội theo luật định và đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ. Nguồn hình thành quỹ: đƣợc đóng góp từ ngƣời sử dụng lao động (15% quỹ lƣơng) và ngƣời lao động (5% mức lƣơng).
Phần còn lại đƣợc lấy từ Ngân sách nhà nƣớc và các nguồn khác [3],[43]. Bảo hiểm Y tế Bảo hiểm y tế là chính sách xã hội do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của ngƣời sử dụng lao động, ngƣời lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho ngƣời có thẻ bảo hiểm y tế khi ốm đau. Hiện tại, chế độ bảo hiểm y tế ở Việt nam có 2 loại hình chủ yếu là: BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện [3],[43]. * Bảo hiểm y tế bắt buộc: Lúc ban đầu chế độ BHYT bắt buộc đƣợc áp dụng cho một số nhóm đối tƣợng, chủ yếu là công chức Nhà nƣớc, ngƣời lao động trong các doanh nghiệp.
Sau đó, đối tƣợng tham gia BHYT bắt buộc đƣợc chia thành 13 nhóm cơ bản. Mức đóng và phƣơng thức đóng góp của các nhóm khác nhau cũng có sự khác nhau: 3% tiền lƣơng, tiền công, tiền trợ cấp, tiền tuất, tiền học bổng; 3% mức tiền lƣơng tối thiểu; mức cố định là 60. * Bảo hiểm y tế tự nguyện: Theo qui định hiện hành, mọi đối tƣợng đều có thể tham gia BHYT tự nguyện. Trong thời gian qua, có những nhóm đối tƣợng sau đây tham gia BHYT tự nguyện: học sinh, sinh viên, hội viên hội đoàn thể, các thành viên trong hộ gia đình ở nông thôn và ở thành thị, thân nhân ngƣời lao động.
Mức phí BHYT tự nguyện đƣợc xác định trên nguyên tắc phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của địa phƣơng, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giá dịch vụ y tế, xác suất ốm đau của ngƣời tham gia và bảo đảm cân đối thu chi quĩ BHYT. Cơ quan Bảo hiểm xã hội xây dựng các đề án xác định mức phí bảo hiểm y tế cho từng loại hình BHYT tự nguyện [3], [43]. Bảo hiểm thƣơng mại Bảo hiểm thƣơng mại còn đƣợc gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo hiểm kinh doanh, đƣợc hiểu là sự kết hợp giữa những hoạt động kinh doanh với việc quản lý rủi ro. Về bản chất, bảo hiểm thƣơng mại là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít ngƣời có khả năng cùng gặp một loại rủi ro, dựa vào quỹ chung bằng tiền, đƣợc xây dựng trên cơ sở sự đóng góp của nhiều ngƣời có khả năng gặp tổn thất đó, thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm.
Bảo hiểm thƣơng mại có thể chia thành hai loại là: bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ [43]. * Bảo hiểm nhân thọ: Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thỏa thuận khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra liên quan đến sinh mạng và sức khỏe của con ngƣời. Các đặc trƣng cơ bản của bảo hiểm nhân thọ là: - Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một loại hợp đồng dài hạn với mức phí bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời hạn bảo hiểm. - Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm duy nhất có thể chi trả cho dù có rủi ro hay không rủi ro xảy ra.
- Công ty bảo hiểm và ngƣời đƣợc bảo hiểm đều phải tuân thủ nguyên tắc trung thực tuyệt đối. Tuân thủ nguyên tắc quyền lợi có thể đƣợc bảo hiểm. - Mức độ rủi ro của bảo hiểm tăng theo độ tuổi của ngƣời đƣợc bảo hiểm. - Kết thúc hợp đồng với sự kiện chết của ngƣời đƣợc bảo hiểm.
Các sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ: bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm niên kim [43]. * Bảo hiểm phi nhân thọ: Bảo hiểm phi nhân thọ là các nghiệp vụ bảo hiểm thƣơng mại khác không thuộc phạm vi bảo hiểm nhân thọ. Tùy theo từng đặc trƣng riêng của đối tƣợng bảo hiểm, bảo hiểm phi nhân thọ đƣợc phân thành nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với ngƣời thứ ba, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đƣờng biển, bảo hiểm hàng không, các loại bảo hiểm con ngƣời phi nhân thọ [43]. Bảo hiểm Y tế ở một số nƣớc trên thế giới * BHYT ở Đức: BHYT theo luật định chiếm khoảng 90% dân số (trong đó có BHYT bắt buộc gồm ngƣời lao động và hƣu trí có thu nhập <47.700euro), BHYT tƣ nhân chiếm khoảng 10% dân số (trong đó BHYT tự nguyện là những ngƣời có thu nhập >47.
BHYT xã hội Đức dựa trên nguyên tắc thống nhất, cơ chế tự quản, ngƣời bệnh hƣởng trực tiếp các dịch vụ y tế, có sự cạnh tranh về đối tƣợng tham gia giữa các quĩ bảo hiểm y tế.