Luận văn Thạc sĩ Y tế: Thái khoa bảo châu xây dựng phương pháp xác định

Luận văn nghiên cứu phương pháp LC-MS/MS xác định thuốc giảm đau chống viêm trộn lậu trong đông dược, góp phần kiểm soát chất lượng dược phẩm.

Chuyên ngành

Dược học - Kiểm nghiệm Thuốc và Độc chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Dược học

2018

128
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Luận văn ThS Thái Khoa Bảo Châu

Luận văn thạc sĩ của Thái Khoa Bảo Châu tại Trường Đại học Dược Hà Nội năm 2018 tập trung vào xây dựng phương pháp xác định thuốc giảm đau chống viêm được trộn trái phép trong chế phẩm đông dược. Nghiên cứu này sử dụng công nghệ LC-MS/MS (Sắc ký lỏng hai lần khối phổ) hiệu năng cao để phát hiện và định lượng các chất cấm. Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực kiểm nghiệm thuốc và độc chất, giải quyết vấn đề sức khỏe công cộng liên quan đến các sản phẩm dược phẩm không tuân thủ quy định.

1.1. Mục tiêu và ý nghĩa nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận văn là xây dựng và thẩm định phương pháp phân tích phù hợp để phát hiện nhóm thuốc glucocorticoidthuốc giảm đau, chống viêm không steroid trong các chế phẩm đông dược. Phương pháp LC-MS/MS được lựa chọn vì độ nhạy cao, độ đặc hiệu tốt và khả năng phân tích đa yếu tố. Nghiên cứu này có ý nghĩa sâu sắc trong bảo vệ sức khỏe người dùng và kiểm soát chất lượng thuốc đông y.

1.2. Tình hình trộn trái phép thuốc hiện nay

Tình hình trộn trái phép các thuốc giảm đau chống viêm trong chế phẩm đông dược là một vấn đề nghiêm trọng trên thế giới và tại Việt Nam. Các nhà sản xuất phi pháp thêm các hoạt chất tổng hợp vào sản phẩm đông dược để tăng hiệu quả thập thì, gây nguy hiểm sức khỏe. Sự xuất hiện của những thuốc không được phép không chỉ vi phạm quy định pháp luật mà còn đe dọa an toàn dân cộng.

II. Phương pháp xây dựng và thẩm định phương pháp phân tích

Phương pháp xây dựng phương pháp trong luận văn của Thái Khoa Bảo Châu bao gồm nhiều giai đoạn quan trọng. Đầu tiên, chuẩn bị các dung dịch và chất chuẩn phù hợp. Tiếp theo là khảo sát và lựa chọn điều kiện khối phổ tối ưu cho từng chất phân tích. Xử lý mẫu được thiết kế để loại bỏ các tạp chất và nâng cao độ nhạy phát hiện. Thẩm định quy trình phân tích tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế như AOAC và ICH.

2.1. Tối ưu hóa điều kiện khối phổ

Giai đoạn tối ưu hóa điều kiện khối phổ là bước quan trọng trong xây dựng phương pháp LC-MS/MS. Thái Khoa Bảo Châu đã khảo sát các thông số kỹ thuật như năng lượng bắn phá phân mảnh (CE), điện thế ion hóa, và chọn ion đặc trưng cho mỗi chất dược phẩm. Quá trình này giúp đạt độ chọn lực cao nhấtgiảm khả năng gây nhiễu.

2.2. Thẩm định theo tiêu chuẩn quốc tế

Thẩm định phương pháp được thực hiện theo tiêu chuẩn ICH bao gồm: độ phù hợp hệ thống, khoảng nồng độ tuyến tính (linearity), độ đúng và độ chính xác, giới hạn phát hiện (LOD)giới hạn định lượng (LOQ). Các yêu cầu quốc tế này đảm bảo phương pháp có độ tin cậy caokhả năng ứng dụng thực tiễn.

III. Các nhóm thuốc được nghiên cứu trong luận văn

Luận văn của Thái Khoa Bảo Châu tập trung vào hai nhóm thuốc chính được trộn trái phép thường xuyên. Nhóm glucocorticoid bao gồm các chất như Dexamethason (DEXA), Betamethason (BETA), Hydrocortison acetat (HYRO) - những thuốc corticoid mạnh được sử dụng rộng rãi trong chế phẩm đông dược giả. Nhóm thuốc giảm đau, chống viêm không steroid (NSAID) bao gồm Indomethacin (INDO), Ketoprofen (KETO) - những chất kháng viêm phổ biến. Việc phát hiện chính xác các chất nàyyếu tố quyết định cho bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

3.1. Nhóm glucocorticoid trong chế phẩm đông dược

Glucocorticoidnhóm thuốc steroid mạnh, có tác dụng chống viêm nhanh chóng nhưng tác dụng phụ nghiêm trọng. Các chất như DEXA, BETA, HYRO thường được thêm trái phép vào chế phẩm đông dược để tăng hiệu quả tạm thời. Lạm dụng dài hạn các corticoid gây loãng xương, tăng đường huyết, suy miễn dịch. Phát hiện các chất này bằng LC-MS/MSđộ nhạy cao, đặc hiệu tốt.

3.2. Nhóm NSAID và tác động sức khỏe

Thuốc giảm đau, chống viêm không steroid (NSAID) như Indomethacin, Ketoprofentác dụng nhanh nhưng tác dụng phụ đáng kể nếu sử dụng không tuân thủ liều lượng. Thêm trái phép NSAID vào chế phẩm đông dược tạo ra sản phẩm lai không tuân thủ quy định pháp luật. Phương pháp LC-MS/MS của luận văn cho phép định lượng chính xác các chất này, hỗ trợ kiểm soát chất lượngbảo vệ người tiêu dùng.

IV. Ứng dụng và kết quả nghiên cứu thực tiễn

Ứng dụng thực tiễn của phương pháp LC-MS/MS mà Thái Khoa Bảo Châu xây dựng là rất quan trọng trong công tác kiểm nghiệm thuốc. Phương pháp đã được áp dụng phân tích hàng chục mẫu chế phẩm đông dược thu thập từ thị trường. Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ mẫu dương tính khá cao, xác nhận tình hình trộn trái phép còn phổ biến. Danh mục mẫu phân tích bao gồm các sản phẩm từ nhiều nhà sản xuất khác nhau. Luận văn cũng cung cấp hình ảnh các mẫu dương tínhsắc ký đồ chi tiết.

4.1. Ứng dụng phương pháp trên mẫu thực tế

Phương pháp phân tích được Thái Khoa Bảo Châu xây dựng đã thành công ứng dụng phân tích hàng chục mẫu chế phẩm đông dược thực tế. Xử lý mẫu được tối ưu hóa để đạt hiệu suất chiết xuất cao nhất. Kết quả phân tích chỉ ra những mẫu dương tính chứa các thuốc giảm đau chống viêm hoặc corticoid cấm. Ứng dụng thực tiễn này chứng minh tính hiệu quảkhả năng ứng dụng của phương pháp LC-MS/MS trong kiểm soát chất lượng.

4.2. Kết luận và kiến nghị từ luận văn

Luận văn của Thái Khoa Bảo Châu rút ra kết luận quan trọng về nhu cầu cấp thiết xây dựng phương pháp phát hiện các thuốc trộn trái phép. Kiến nghị bao gồm áp dụng phương pháp LC-MS/MS trong các cơ quan kiểm định, tăng cường giám sát chất lượng sản phẩm đông dược trên thị trường. Luận văn cũng đề xuất hợp tác giữa các bộ ngành để xử lý vi phạmbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

21/12/2025
Thái khoa bảo châu xây dựng phương pháp xác định một số thuốc giảm đau chống viêm trộn trái phép trong chế phẩm đông dược bằng lc msms luận văn thạc sĩ dược học

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng thuốc và thực phẩm chức năng (TPCN) có nguồn gốc từ đông dược thay thế cho các chế phẩm có nguồn gốc tổng hợp hóa dược đang là một xu thế phổ biến. Theo Tổ chức Y tế Thế giới có đến 80% người dân ở các nước đang phát triển sử dụng thường xuyên các thuốc cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe. Ở Châu Âu, doanh thu đem lại từ các sản phẩm thuốc có nguồn gốc thảo dược lên đến hơn 3,7 tỷ Euro hằng năm [38]. Chế phẩm đông dược có nguồn gốc từ thực vật, động vật và khoáng vật.

Vốn được coi là có nguồn gốc tự nhiên, kinh tế và an toàn, loại chế phẩm này thường được nhiều người ưa chuộng. Tuy nhiên chế phẩm đông dược thường được chỉ định điều trị kéo dài với số lượng lớn. Nhằm hấp dẫn khách hàng, một số nhà sản xuất và cơ sở khám chữa bệnh tư nhân đã trộn không công bố vào chế phẩm đông dược một số loại thuốc tân dược để cải thiện tác dụng và rút ngắn thời gian điều trị [35], [37]. Điển hình các nhóm thuốc tân dược hay được trộn là nhóm thuốc giảm glucose máu, thuốc chống viêm nhóm glucocorticoid, thuốc giảm đau, chống viêm không steroid, thuốc hạ huyết áp, thuốc giảm béo, thuốc ức chế phosphodiesterase-5 [62], [64].

Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm thuốc giảm đau chống viêm [60], [65]. Các trường hợp phát hiện tập trung phần lớn ở Trung Quốc [34], [46], Singapore [50], Pakistan [25], Ấn Độ [51] và Nam Phi [67]. Dùng chế phẩm đông dược có trộn lẫn tân dược nhóm giảm đau chống viêm với liều lớn và kéo dài như với chế phẩm đông dược thông thường đã gây ra nhiều biến chứng và tác dụng phụ nguy hiểm như buồn nôn, nôn, xuất huyết dạ dày, phản ứng da nghiêm trọng, rối loạn huyết học, suy thượng thận… [39], [42]. Nhiều trường hợp sử dụng chế phẩm đông dược điều trị bệnh xương khớp nhưng bệnh càng trở nên trầm trọng hơn do tác dụng phụ khi dùng kéo dài các thuốc giảm đau chống viêm trộn lẫn trong đó [40].

Để đảm bảo an toàn cho người sử dụng, bên cạnh việc tăng cường các biện pháp xử lý của các cơ quan quản lý Nhà nước thì việc nghiên cứu phát hiện các thuốc giảm đau chống viêm trộn trái phép vào chế phẩm đông dược của các cơ quan 1 kiểm nghiệm là việc làm rất cần thiết. Hiện nay ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu phát hiện các thuốc giảm đau chống viêm trộn trái phép vào chế phẩm đông dược bằng các phương pháp như sắc ký lớp mỏng (TLC) [14], [15], sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC) [18], và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [9], [12], [21]. Tuy nhiên với nền mẫu chế phẩm đông dược có tính chất phức tạp, các phương pháp trên có thể cho kết luận âm tính giả hoặc dương tính giả. Hiện nay, phương pháp phân tích sắc ký lỏng hai lần khối phổ (LC-MS/MS) là một phương pháp phân tích hiện đại ở Việt Nam, đang từng bước được ứng dụng rộng rãi trong phân tích và kiểm nghiệm thuốc.

Tập hợp khả năng phân tách chất của sắc ký lỏng (LC) và khả năng phát hiện, định lượng của khối phổ (MS), phương pháp cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao, phù hợp trong phân tích trên nền mẫu phức tạp như chế phẩm đông dược. Đây được xem là phương pháp quy chiếu, thường dùng so sánh, đối chiếu với các phương pháp khác trong việc phát hiện thuốc tân dược trộn lẫn trong chế phẩm đông dược [38], [54]. Từ các thực tế trên, nhằm phát triển một phương pháp phân tích có thể xác định đồng thời nhiều tân dược trộn trái phép trong chế phẩm đông dược ở nồng độ thấp với độ tin cậy cao, góp phần vào công tác kiểm tra phát hiện và xác định các tân dược trộn lẫn trong đông dược, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xây dựng phương pháp xác định một số thuốc giảm đau chống viêm trộn trái phép trong chế phẩm đông dược bằng LC-MS/MS”. Với mục tiêu: 1.

Xây dựng phương pháp xác định đồng thời paracetamol, piroxicam, indomethacin, ketoprofen, betamethason, dexamethason acetat, hydrocortison acetat, prednisolon và prednison trộn lẫn trong chế phẩm đông dược bằng phương pháp LC-MS/MS. Ứng dụng phương pháp LC-MS/MS để xác định paracetamol, piroxicam, indomethacin, ketoprofen, betamethason, dexamethason acetat, hydrocortison acetat, prednisolon và prednison (nếu có) trộn lẫn trong các chế phẩm đông dược lưu hành trên thị trường. Tình hình trộn trái phép các thuốc giảm đau chống viêm trong chế phẩm đông dược 1. Trên thế giới Hiện nay, tình trạng chế phẩm đông dược bị trộn trái phép tân dược đang diễn ra phổ biến, đây đang là vấn đề của nhiều nước trên thế giới.

Điển hình các nhóm thuốc tân dược hay được trộn vào là nhóm thuốc giảm glucose máu, thuốc glucocorticoid, thuốc giảm đau, chống viêm không steroid, thuốc hạ huyết áp, thuốc giảm béo, thuốc ức chế phosphodiesterase-5 [62], [64]. Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm thuốc giảm đau chống viêm như thuốc glucocorticoid và thuốc giảm đau, chống viêm không steroid [28], [60], [65]. Ở Châu Âu, nước Anh đã phát hiện nhiều trường hợp người bệnh nhập viện điều trị do tác dụng phụ khi dùng kem dược liệu có trộn lẫn hydrocortison, clobetason butyrat, betamethason valerat, clobetason propionat [61]. Ở Châu Á, tại Ả Rập, Maciej J.

Bogusz và cộng sự đã tiến hành khảo sát 80 loại thuốc tân dược thuộc nhiều nhóm dược lý khác nhau, thường được trộn lẫn trong chế phẩm đông dược bằng phương pháp LC-MS/MS, kết quả phát hiện bột dược liệu Jamu Ragel từ Indonesia với chỉ định giảm đau thấp khớp chứa tân dược giảm đau chống viêm phenylbutazon và dipyron [29]. Tại Ấn Độ, Akash A. Savaliya và cộng sự đã tiến hành định tính 25 dược chất gồm cả giảm đau, chống viêm steroid và không steroid bằng sắc ký lỏng ghép nối khối phổ thời gian bay (LC-MS/TOF) và phát hiện mẫu đông dược chứa các thuốc giảm đau chống viêm như diclofenac, dexamethason, piroxicam [65]. Tại Hàn Quốc, nghiên cứu của So-Hyun Cho và cộng sự đã khảo sát 294 chế phẩm đông dược điều trị hoặc hỗ trợ điều trị các bệnh về xương khớp trên thị trường từ năm 2010 đến năm 2013, kết quả cho thấy có 30% mẫu khảo sát phát hiện có trộn các dược chất giảm đau chống viêm như dexamethason, betamethason, cortison, prednisolon, prednison [33].

Theo báo cáo tại Hội nghị Hòa hợp chế phẩm đông dược khu vực Châu Á Thái Bình Dương, vấn đề thuốc tân dược giảm đau chống viêm trộn lẫn trong chế phẩm 3 đông dược đang xảy ra ở nhiều quốc gia trong khu vực, nhiều mẫu chế phẩm đông dược điều trị ho, hen, thấp khớp đã phát hiện có trộn prednisolon hoặc dexamethason [56]. Tại Trung Quốc, Qionglin Liang và cộng sự đã phân tích thuốc tân dược trộn trái phép trong TPCN và các thuốc có nguồn gốc từ dược liệu bằng phương pháp LC-MS/MS. Kết quả đã phát hiện 9 mẫu chế phẩm đông dược có ibuprofen, diazepam [54]. Tại Singapore, năm 2003 Aik-Jiang Lau và cộng sự đã phát hiện phenylbutazon, oxyphenylbutazon trộn lẫn trong chế phẩm đông dược bằng LC-MS/MS [53].

Từ năm 2007 đến nay, Ủy ban Khoa học Sức khỏe Singapore liên tục công bố các chế phẩm đông dược lưu hành trên thị trường có chứa thành phần tân dược giảm đau chống viêm không được công bố trên nhãn. Nguồn gốc của các thuốc này phần lớn là thuốc bán trên mạng [43], thuốc gia truyền, hàng xách tay từ Trung Quốc [39], [40], [41], một số ít có nguồn gốc từ Malaysia [44]. Thuốc được quảng cáo có tác dụng giảm đau chống viêm, hiệu quả trong điều trị viêm khớp và có thành phần hoàn toàn tự nhiên, nhưng thực tế phát hiện trong thuốc có trộn một số tân dược như paracetamol [39], [44], piroxicam [41], [44], indomethacin [39], [40], [42], diclofenac [43], dexamethason [41], [42], [43], prednison [42], prednisolon [40]. Các nước như Thái Lan, Indonesia cũng tích cực trong việc xây dựng phương pháp và phát hiện các thuốc tân dược giảm đau chống viêm trộn vào chế phẩm đông dược.

Tại Thái Lan, Chutima Limmatvapirat và cộng sự đã dùng TLC phát hiện các thuốc nhóm glucocorticoid trộn trong chế phẩm đông dược, tỷ lệ chế phẩm phát hiện có chứa dexamethason hay prednisolon từ năm 2007 đến năm 2011 lần lượt là 28,57%; 10,39%; 3,33%; 4,41% và 6,95% [55]. Tại Indonesia, Hilda A. Wisnuwardhani và cộng sự đã sử dụng TLC và phát hiện có paracetamol, piroxicam trộn trong chế phẩm đông dược Jamu Pegal Linu [72]. Có thể thấy các thuốc nhóm giảm đau chống viêm có nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng và trên thế giới vẫn ghi nhận nhiều trường hợp trộn thuốc nhóm này trong chế phẩm đông dược.

Việc người bệnh dùng các chế phẩm đông dược trộn lẫn tân dược giảm đau chống viêm kéo dài có thể tích lũy và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Để bảo vệ quyền lợi và sức khỏe cho người sử dụng, đề tài được tiến 4 hành nhằm đưa ra giải pháp phát hiện và xác định nhanh chóng, hiệu quả nhóm thuốc này trong chế phẩm đông dược. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, chế phẩm đông dược (TPCN, thuốc đông y) có mặt trên thị trường trong nước hiện nay rất đa dạng và nhiều thành phần. Tuy nhiên các chế phẩm này thường không được kiểm soát chặt chẽ, bán tràn lan trên mạng và trong siêu thị… nên có nguy cơ cao bị làm giả.

Nhiều chế phẩm đông dược nhập khẩu bán trôi nổi trên thị trường đã phát hiện có trộn trái phép tân dược giảm đau chống viêm như Nam Liên Truy Phong Thấu Cốt Hoàn của Trung Quốc có dexamethason acetat [56], Qing Xin Dao Chi Pian của Singapore có paracetamol [73]. Với tính chất phổ biến, dễ trộn, cùng với các tác dụng phụ nguy hiểm tiềm ẩn khi dùng kéo dài, các chất thuộc nhóm giảm đau chống viêm đã được quan tâm phát hiện trong chế phẩm đông dược từ lâu. Một số báo cáo cho thấy thuốc và TPCN có nguồn gốc đông dược được làm giả mạo bằng cách trộn thêm các tân dược giảm đau chống viêm được trình bày tóm tắt trong Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ