MỞ ĐẦU Bạo lực học đường không là một vấn đề mới mẻ nhưng thời gian gần đây mới bùng phát một cách mạnh mẽ, mức độ và tính chất của hành vi này ngày càng nguy hiểm. Bạo lực học đường đang trở thành mối lo ngại của ngành giáo dục, cha mẹ học sinh và toàn xã hội. Nó tác động trực tiếp đến tinh thần, thái độ học tập của học sinh và việc giảng dạy của các thầy, cô giáo. Nó diễn ra không chỉ ở thành phố mà còn ở các vùng nông thôn, không chỉ xảy ra ở học sinh nam mà còn cả học sinh nữ.
Thật đau lòng khi bạo lực học đường còn xảy ra ở cả phái nữ, vốn được mệnh danh là “phái yếu”. Có thể nói, đây không phải là vấn đề của riêng mỗi quốc gia nào mà đã trở thành vấn nạn của toàn cầu. Có lẽ chưa có đất nước nào thoát khỏi tình trạng bạo lực học đường. Bạo lực học đường có dấu hiệu gia tăng mạnh; quy mô, cùng hậu quả của nó cũng ngày càng nặng nề hơn trước đây rất nhiều lần, đặc biệt là bạo lực xảy ra giữa các em học sinh với nhau.
Đáng sợ hơn, các em còn dám quay lại cảnh mình đánh đấm dã man, rồi công khai phát tán trên mạng internet, thách thức dư luận, nhà trường và những nhà quản lí giáo dục. Theo thống kê, trên thế giới, mỗi năm có 6 triệu em trai và 4 triệu em gái có liên quan trực tiếp đến bạo lực học đường. Trên thực tế, con số đó đang ngày càng tăng lên, bạo hành trường học trở thành vấn đề chung của giáo dục quốc tế. Ở Việt Nam những năm gần đây, dư luận xã hội lên tiếng khá nhiều về bạo lực học đường, với những lo ngại về sự đa dạng và mức độ nguy hiểm của hành vi này.
Theo ông Ngũ Duy Anh-Vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh sinh viên cung cấp, thống kê chưa đầy đủ từ năm 2009 đến nay, tổng số học sinh/sinh viên liên quan đến pháp luật hình sự trên 8000 vụ việc, số học sinh sinh viên vi phạm tiếp tục gia tăng về tính chất, mức độ lẫn sự nghiêm trọng của các vụ việc [2]. Thời gian gần đây, các vụ bạo lực học đường không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về mức độ nguy hiểm của nó, và lan rộng ra nhiều địa phương. Những con số này đang gióng 1 lên hồi chuông báo động cho chúng ta về thực trạng lối hành xử bạo lực, thiếu lành mạnh của các em học sinh. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bạo lực giữa các em học sinh với nhau, một trong những nguyên nhân quan trọng là do xuất phát từ nhận thức còn hạn chế và thái độ thờ ơ, dửng dưng của các em học sinh về vấn đề này.
Các em hiện nay có rất ít môi trường thật an toàn và trong lành để vui chơi thể thao, thư giãn sau những giờ học căng thẳng khiến các em dễ cáu giận, phản ứng thái quá, hoặc lệch lạc. Có em mất phương hướng, không biết làm gì để khẳng định bản thân. Có em do quá căng thẳng, mệt mỏi trong học tập đã nổi khùng trước người khác hoặc có ý nghĩ phải làm tổn thương ai đó hay làm tổn thương chính mình. Rất nhiều các em không ngần ngại tạo dựng cho mình một sức mạnh nào đó qua băng nhóm bạn bè và luôn sẵn sàng lao vào đánh nhau mà không cần mảy may suy nghĩ hậu quả.
Đánh bạn vì ghét cái nhìn, đánh vì bị xúc phạm hay tranh người yêu của nhau…. trở nên khá phổ biến ở lứa tuổi học trò. Nhiều em học sinh cho rằng bạo lực giữa các bạn học sinh với nhau không gây ra hậu quả gì nghiêm trọng cả nên cứ có mâu thuẫn là lại dùng bạo lực để giải quyết. Khi xảy ra mâu thuẫn giữa các học sinh, thay vì cùng nhau hòa giải hay thông báo cho nhà trường, thầy cô can thiệp thì các em “tự xử” với nhau một cách bạo lực.
Những em chứng kiến những cảnh đó cũng không dám lên tiếng vì sợ hãi hoặc thờ ơ, vô cảm, không quan tâm, coi đó là chuyện riêng của người khác; thậm chí có em còn cổ vũ cho những hành động đó. Thái độ sai lệch đó cùng nhận thức còn kém của các em đã góp phần làm cho hiện tượng bạo lực tăng lên trong thời gian gần đây. Thời gian qua, các cấp chính quyền nước ta đã có nhiều giải pháp để ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường song kết quả thu được vẫn chưa cao, công tác thực hiện vẫn chưa triệt để. Bạo lực học đường đã trở thành vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội, đòi hỏi các cấp chính quyền cũng như các ban ngành phải có những biện pháp thích hợp để khắc phục tình trạng trên nhằm thiết lập một môi trường học đường an toàn, thân thiện cho học sinh, đảm bảo an ninh cho xã hội.
Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này song chủ yếu mới chỉ đề cập đến thực 2 trạng bạo lực học đường, một số yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng trên,… mà ít có công trình nào tìm hiểu sâu thái độ của học sinh về vấn đề này. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Thái độ của học sinh, sinh viên trường Cao đẳng Y tế Kiên Giang về vấn đề bạo lực học đường” để nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài 1.1 Lý luận về thái độ 1.1 Các thuyết về thái độ - Thuyết hành động hợp lý: Ajzen và Fishbein phát triển lý thuyết hành động hợp lý trên cơ sở giả định rằng con nguời thưòng hành xử theo cách nhạy cảm, tính đến thông tin và thái độ của mình trong hành động. Trong mô tả này xuất phát từ sự kết hợp hai yếu tố cơ bản: Thứ nhất là thái độ của cá nhân trái với hành vi hay những quan điểm của họ.
Thứ hai là nhận thức áp lực xã hội của cá nhân phải thực hiện hay không thực hiện hành động, điều này gọi là tiêu chuẩn chủ quan. Có nghĩa là chúng ta chú ý thực hiện một hành vi nếu chúng ta đánh giá nó tích cực và thấy rằng hành vi đó đã được xã hội chấp nhận, ủng hộ, chúng ta thuờng hành động theo những chuẩn mực, tiêu chuản thuờng có trong xã hội. Những điều này dựa vào kinh nghiệm của bản thân truớc một sự vật hiện tượng nào đó, trên cơ sở kinh nghiêm gắn kết với hành vi của chúng ta theo một tình huống cụ thể, từ đó đánh giá hành vi đó là hợp lý hay không hợp lý, khi đó sẽ hình thành nên thái độ của cá nhân. - Thuyết cân bằng của Heider: Ông cho rằng tìm hiểu nhận thức hay quan điểm của con người về các mối quan hệ của họ là tiền đề để tìm hiểu các hành vi xã hội của họ.
Theo ông con nguời luôn có mong muốn thái độ của mình sẽ luôn nhất quán với nhau, do đó nếu nó không nhất quán sẽ gây nên tình trạng mất cân bằng nhận thức, điều này có thể dẫn đến sự mệt mỏi, căng thẳng cho con nguời, vì vậy họ sẽ luôn có xu huớng tìm kiếm sự cân bằng trong thái độ. Heider áp dụng nguyên tắc cân bằng bộ đôi và bộ ba trong việc tìm hiểu các mối quan hệ cá nhân và tìm hiểu thái độ. Mối quan hệ dễ chịu giữa hai nguời là cân bằng bộ đôi, nếu mối quan hệ mất cân bằng sẽ gây nên sự hiểu lầm, căng thẳng và có thể phá vỡ mối quan hệ. Ông cho rằng căng thẳng tạo nên bộ ba, mất cân bằng cũng tạo ra áp lực thay đổi sao cho chúng ta lấy lại sự cân bằng nhận thức.
Những điều này liên quan đến những tình huống trực tiếp và cụ thể khác nhau.2 Khái niệm thái độ Thái độ là một hiện tượng tâm lý được nghiên cứu nhiều trong tâm lý học xã hội, ngay từ năm 1935 trong “sổ tay tâm lý học xã hội” Allport đã cho rằng “Thái độ có lẽ là khái niệm phân biệt nhất và quan trọng nhất trong tâm lý học hiện đại xã hội Mỹ”. Nhiều nhà khoa học đã định nghĩa thái độ xã hội thực tế là khoa học nghiên cứu các thái độ. Có nhiều người cho rằng quan điểm đó là thái quá. Nhưng thực tế mấy chục năm qua đã chứng minh rằng tuyên bố của Allport có giá trị dự đoán.
Năm mươi năm sau, năm 1985 trong cuốn “sổ tay tâm lý học xã hội” của tác giả Kiliam McGuire, ông đã tổng kết rằng “Thái độ và sự thay đổi thái độ vẫn là một trong những đề tài được nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học xã hội”. Người đầu tiên sử dụng khái niệm thái độ như một đặc tính quan trọng của một vấn đề là Thomas và Znanicki – hai nhà nghiên cứu Mỹ. Trong những nghiên cứu của mình về thái độ hai ông cho rằng: Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị. Allport lại coi nhân cách như là một tổ chức bên trong cơ động, một cái tôi siêu hình nào đó bao gồm các mục đích, các thái độ được hiện thực hoá bằng hành vi và tư duy.
Năm 1935 ông định nghĩa: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm sử dụng sự điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động trong phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó có mối quan hệ”. “Thái độ là cách phản ứng của một người theo cách có lợi hoặc bất lợi với các đối tượng và tình huống mà người đó gặp phải”. Định nghĩa này bao hàm cả nghĩa thái độ là trạng thái sẵn sàng của tâm thần kinh cho hoạt động tâm lý hoặc sinh lý, thái độ chuẩn bị, định hướng cho cá nhân với một hoạt động nào đó và thái độ điều chỉnh hành vi của con người. Tiếp cận dưới quan điểm của tâm lý học nhân cách Guilford (1964) đã cho rằng nhân cách là cấu trúc độc đáo, có cấu trúc gồm 7 khía cạnh (nhu cầu, hứng thú, khí chất năng lực, giải phẫu hình thành, thái độ) để đưa ra khái niệm về thái độ.
Theo ông: Thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến những hoàn 5 cảnh xã hội. Ở khái niệm này ông chỉ ra rằng thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với những hoàn cảnh xã hội cụ thể.