Chương 1: Cơ sở lí luận về thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông. - Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về thái độ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hƣơng 1 Ơ SỞ LÍ LUẬN VỀ T Á HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tình hình nghiên cứu về thái đ học tập môn Lịch sử của học sinh trung học phổ thông 1. Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Người đầu tiên khởi xướng những nghiên cứu về thái độ là A. Trong các tác phẩm của mình như: Chương trình nghiên cứu nhân cách trong mối quan hệ với môi trường (1912), Tâm lí học đại cương và thực nghiệm (1912), Bút kí khoa học về tính cách (1916), Phân loại nhân cách (1917), A.Lagiurxki đã đề cập đến khái niệm thái độ chủ quan ở con người với môi trường. Ông cho rằng, có hai lĩnh vực trong đời sống tâm lí thực của con người: - Cái tâm lí bên trong: là cơ sở bẩm sinh của nhân cách (khí chất, tính cách và một loạt các đặc điểm tâm sinh lí khác).
- Cái tâm lí bên ngoài: là hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh.Lagiurxki thì thái độ cá nhân là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm lí, phản ứng với sự tác động của môi trường xung quanh. Ông hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng, bao gồm thái độ với giới tự nhiên, với sản phẩm lao động, với những cá nhân khác, với các nhóm xã hội và với những giá trị tinh thần. Trong đó, thái độ của nhân cách đối với lao động, với nghề nghiệp; và sở hữu, với người khác và với xã hội là điều mà A.Lagiurxki đặc biệt coi trọng.258] Những nghiên cứu về thái độ ở Liên Xô (cũ) được bắt đầu sớm hơn so với ở phương Tây. Nhà tâm lí học Xô viết V.Miaxisev (1892 – 1973) cũng bắt đầu từ các nghiên cứu của A.Lagiurxki nhưng “thổi” vào đó những quan 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điểm của tâm lí học mác xít về bản chất của con người và xây dựng nên “học thuyết thái độ nhân cách”, cho rằng hạt nhân tâm lí nhân cách là một hệ thống trọn vẹn mang tính cá thể của các thái độ có ý thức – chọn lọc, mang tính giá trị của chủ quan đối với hiện thực khách quan.
Hệ thống thái độ được hình thành theo cơ chế chuyển dịch “từ ngoài vào trong”, thông qua với những người khác trong những điều kiện xã hội mà chủ thể đang sống và sinh hoạt [8]. Trong học thuyết này, V.Miaxisev còn đề cập việc phân loại thái độ, ông chia thái độ thành hai loại là tích cực (dương tính) và tiêu cực (âm tính); ông cũng đưa ra các chỉ báo về thái độ cho phép đánh giá và phân tích nhân cách. Những đề xuất trong nghiên cứu thái độ của ông còn được ứng dụng triển khai trong nghiên cứu các bệnh suy nhược thần kinh – một lĩnh vực ứng dụng thực hành của khoa học tâm lí. Một học thuyết khác được coi là có ảnh hưởng lớn tới tâm lí học Liên Xô (cũ) là thuyết tâm thế.
Trong thuyết này, D.Uznadze đã đưa ra định nghĩa, một cách hiểu mới về tâm thế, cho rằng tâm thế là “sự mô phỏng trọn vẹn của chủ thể, sự sẵn sàng tri giác các sự kiện và sự xác định hoàn thiện về hướng của hành vi” [8, tr. Tâm thế là cơ sở của tính tích cực có chọn lọc, có chủ định. Xuất phát từ vai trò, vị trí của tâm thế trong hoạt động, tâm thế được xem như là một trạng thái vô thức, chỉ sau khi hội tụ đủ hai yếu tố: nhu cầu và hoàn cảnh, điều kiện thỏa mãn nhu cầu thì xu hướng biểu hiện tâm lí hành vi vủa một cá thể bất kì mới được quyết định. Cách tiếp cận, xem xét khái niệm tâm thế theo D.Uznadze giúp cho việc xác định nghiên cứu tâm thế xã hội – thái độ trong tâm lí học xã hội ở Liên Xô trước đây, được đặt trong bối cảnh khả quan.
Sau này, học trò của D. Nadiraevili đã phát hiện những quy luật tác động qua lại của tâm thế xã hội – thái độ giữa người đi thuyết phục và người bị thuyết phục. Cũng trong nghiên cứu tâm thế xã hội, thành phần cấu trúc của tâm thế xã hội đã được P. Siltllirev mô tả gồm có ba thành phần là nhận thức, cảm xúc và hành động.
Tuy nhiên, bằng việc nghiên cứu thực nghiệm, La Piere 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là người đầu tiên đã phát hiện có sự không đồng bộ, thống nhất với nhau giữa các phản ứng bằng lời nói với hành vi thực trong cuộc sống của cá nhân trong tâm thế xã hội của họ. Để giải quyết mâu thuẫn giữa các thành phần của thái độ, V. Iadov đã đưa ra thuyết nghiên cứu hệ thống định vị điều chỉnh hành vi hoạt động xã hội của cá nhân. Thuyết này đã phát triển khái niệm tâm thế và cho rằng hành vi xã hội của mỗi cá nhân được điều khiển bởi hệ thống định vị bao gồm tâm thế, tâm thế xã hội, xu hướng cơ bản của hứng thú, cơ sở hệ thống định hướng giá trị.
Theo đó, tâm thế chỉ là một dạng định vị điều chỉnh hành vi, phản ứng cá nhân trong các tình huống đơn giản khi có sự “gặp gỡ” giữa nhu cầu sinh lí và đối tượng thoả mãn nhu cầu. Hệ thống định vị cũng có cấu trúc thứ bậc, trong đó định vị bậc cao có thể chi phối định vị bậc thấp. Iadov đã lí giải một cách hợp lí về mâu thuẫn giữa hành vi và các phản ứng bằng lời trong thái độ của cá nhân: “Vai trò chủ đạo điều khiển hành vi thuộc về cách bố trí dàn binh của một mức độ khác” mà theo cách này, hành vi bị điều khiển phụ thuộc vào vị trí động cơ (đối tượng hoạt động) tương ứng trong cấu trúc thứ bậc động cơ của nhân cách [8, tr. Trong những năm cuối thế kỉ XX nhà tâm lí học người Nga B.Lomov cũng đã đề cập đến khái niệm thái độ chủ quan của nhân cách [18].
Cơ sở khoa học của khái niệm này, B.Lomov xác định là các quan hệ xã hội, trong đó quan hệ kinh tế có vai trò quyết định. Còn tính chất và động thái của thái độ chủ quan được hình thành ở mỗi cá nhân phụ thuộc vào vị trí (lập trường) mà nó chiếm chỗ trong hệ thống các quan hệ xã hội và sự phát triển của nó trong hệ thống đó.Lomov còn khẳng định tính nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động của thái độ chủ quan trong một hệ thống phức tạp được gọi là “không gian chủ quan đa chiều”. Tuy nhiên, không phải lúc nào không gian này cũng trùng hợp với không gian các quan hệ xã hội mà cá nhân tham gia một cách khách quan nên chúng ta thường gặp nhiều hơn là sự “pha trộn” giữa chúng. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng theo B.Lomov, thái độ chủ quan được hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp.
Ông cho rằng cũng có khi xảy ra sự mâu thuẫn giữa giao tiếp và hoạt động, nhưng chính việc giải quyết mâu thuẫn này bảo đảm cho cá nhân chuyển từ thời kì, giai đoạn này sang thời kì, giai đoạn khác. Như vậy, trên cơ sở những đề xuất, quan điểm nghiên cứu nhân cách, trong đó có thái độ chủ quan của cá nhân, B.Lomov đã vạch ra cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc nghiên cứu thái độ. Tóm lại, khi nghiên cứu các vấn đề của thái độ các nhà tâm lí học Liên Xô trước đây đã vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách, gắn thái độ với nhu cầu, với điều kiện hoạt động, với nhân cách, coi thái độ như là một hệ thống, từ đó đưa ra cách lí giải hợp lí và khoa học về sự hình thành thái độ, vị trí, chức năng của thái độ trong quá trình điều chỉnh hành vi và hoạt động của cá nhân. Trong tâm lí học phương Tây, vấn đề thái độ (attitude) lần đầu tiên được đặt ra bởi W.Znaniecki vào năm 1918, từ đó nó được đặt vào một vị trí trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoa học.
Trong nghiên cứu của mình, nhà tâm lí học xã hội Liên Xô (cũ) P.Sikllirev đã chia lịch sử nghiên cứu thái độ ở phương Tây ra làm ba thời kì chính [9, tr.318]: - Thời kì thứ nhất kéo dài từ năm 1918 đến năm 1939, gắn với tên tuổi của hai tác giả người Mĩ nêu trên là W.Znaniecki khi họ khởi đầu nghiên cứu về thái độ của những người nông dân Ba Lan di cư sang Mĩ. Các công trình nghiên cứu ở thời kì này chủ yếu tập trung vào vấn đề định nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ của nó với hành vi. Sự phát hiện ra “nghịch lí La Piere” năm 1934, biểu thị sự không nhất quán giữa phản ứng bằng lời nói (thái độ) và hành vi chính là công trình nghiên cứu thực nghiệm gây chú ý nhất trong thời kì này. Có thể coi đây là thời kì phát triển mạnh mẽ các nghiên cứu về thái độ.
- Thời kì thứ hai kéo dài từ năm 1939 đến cuối những năm 1950, gắn với những tên tuổi như Liker, Sank, G. Các 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu ở thời kì này chủ yếu tập trung tìm hiểu, lí giải những hoài nghi về vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi. Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu về thái độ ở thời kì này có sự giảm sút một cách đáng kể. - Thời kì thứ ba kéo dài từ cuối những năm 1950 đến nay, có thể được coi là thời kì bùng nổ của những nghiên cứu về thái độ ở phương Tây.
Các nghiên cứu ở thời kì này thường đề cập đến những quan niệm mới về định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó.