Tổng quan về luận án
Công trình nghiên cứu của tác giả Dương Thị Như Nguyệt đặt trọng tâm vào việc giải mã cơ chế tâm lý hình thành và chuyển hóa thái độ của phạm nhân đối với việc thực hiện nội quy trại giam (NQTG) tại các cơ sở giam giữ thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (Cục C10), Bộ Công an. Trong bối cảnh công tác Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp đang chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình trừng phạt thuần túy sang giáo dục, cảm hóa và phục hồi nhân cách, việc nắm bắt động thái tâm lý của người chấp hành án đóng vai trò then chốt. Nghiên cứu mang tính tiên phong khi tiếp cận việc chấp hành nội quy không chỉ dưới góc độ pháp lý - hành chính mà xem xét như một chỉnh thể tâm lý phức hợp bao gồm nhận thức, cảm xúc và hành vi trong môi trường cưỡng chế đặc biệt.
Khoảng trống nghiên cứu (Research gap) được xác định rõ rệt: Phần lớn các công trình tâm lý học thực nghiệm trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào thái độ lao động, thái độ học tập hoặc thái độ nghề nghiệp của học sinh, sinh viên và người lao động ngoài xã hội (như nghiên cứu của Vũ Dũng, 2004; Nghiêm Thị Phiến, 1991; Phạm Minh Hạc, 2007). Các nghiên cứu chuyên ngành công an thường tiếp cận phạm nhân dưới góc độ quản lý hành chính, giám sát an ninh hoặc tâm lý tội phạm học tư pháp nói chung (Hoàng Cung, 2006; Chu Văn Đức, 2009; Nguyễn Hữu Toàn, 2013). Hoàn toàn thiếu vắng một công trình nghiên cứu thực nghiệm quy mô lớn, hệ thống hóa cấu trúc thái độ của phạm nhân đối với NQTG theo mô hình đa thành phần và xác lượng hóa các nhân tố chi phối.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được thiết lập chặt chẽ:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Thực trạng tính tích cực trong thái độ của phạm nhân đối với việc thực hiện NQTG biểu hiện như thế nào trên các mặt nhận thức, cảm xúc và hành vi?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Mức độ tích cực của thái độ có sự phân hóa ra sao theo các đặc điểm nhân khẩu học (giới tính, học vấn, tiền án tiền sự, thời hạn tù)?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những yếu tố chủ quan và khách quan nào chi phối mạnh nhất đến thái độ chấp hành NQTG của phạm nhân?
- Câu hỏi nghiên cứu 4 (RQ4): Những biện pháp tâm lý - sư phạm nào có thể tối ưu hóa thái độ tích cực của phạm nhân trong quá trình cải tạo?
Hệ thống giả thuyết khoa học tương ứng:
- Giả thuyết 1 (H1): Tính tích cực của thái độ phạm nhân đối với việc thực hiện NQTG hiện nay ở mức trung bình và có sự không đồng đều giữa các mặt biểu hiện; trong đó biểu hiện hành vi đạt mức độ thấp hơn so với nhận thức và cảm xúc.
- Giả thuyết 2 (H2): Phạm nhân có trình độ học vấn cao hơn, thời gian chấp hành án ít hơn và phạm tội lần đầu có tính tích cực của thái độ cao hơn nhóm đối chứng; không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thái độ giữa phạm nhân nam và phạm nhân nữ.
- Giả thuyết 3 (H3): Thái độ của phạm nhân chịu sự tác động đồng thời của bốn nhóm yếu tố: niềm tin vào tương lai, sự quan tâm của gia đình, mối quan hệ giữa các phạm nhân và phong cách giao tiếp của cán bộ quản giáo (CBQG); trong đó sự quan tâm của gia đình đóng vai trò chi phối mạnh nhất.
- Giả thuyết 4 (H4): Hệ thống 05 biện pháp tác động tâm lý - giáo dục đồng bộ sẽ tạo chuyển biến tích cực trong việc chấp hành NQTG của người chấp hành án.
Khung lý thuyết của luận án được định hình từ Thuyết Tâm lý học Hoạt động - Giao tiếp (S.L. Rubinstein, A.N. Leontiev, B.F. Lomov), Lý thuyết Cấu trúc thái độ ba thành phần ABC (M.B. Smith, 1942; A.H. Eagly & S. Chaiken, 1993) và Hệ thống định vị giá trị nhân cách (V.A. Yadov, 1969). Phạm vi khảo sát thực nghiệm được triển khai trên tổng số $N = 315$ khách thể, bao gồm điều tra định lượng bằng bảng hỏi trên 285 phạm nhân người Việt Nam chấp hành án phạt tù có thời hạn, phỏng vấn sâu 20 phạm nhân và 10 cán bộ quản giáo tại 03 trại giam trọng điểm phía Bắc: Trại giam Phú Sơn 4, Trại giam Thanh Xuân và Trại giam Hoàng Tiến trong giai đoạn từ tháng 11/2017 đến tháng 06/2021.
Literature Review và Positioning
Nghiên cứu về thái độ đã trải qua một tiến trình phát triển học thuật lâu dài. Luận án tiến hành tổng quan và phân loại thành ba dòng nghiên cứu chính:
Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào bản chất và cơ chế hình thành thái độ: Khởi xướng từ trường phái tâm lý học Nga, A.F. Lazursky (1912) đã tiên phong phân chia đời sống tâm lý thành cái bên trong và cái bên ngoài, khẳng định cái tâm lý bên ngoài chính là "hệ thống thái độ của nhân cách với môi trường xung quanh" [tr. 15]. Quan điểm này được B.F. Lomov (1984) phát triển khi nhấn mạnh thái độ chủ quan của cá nhân gắn liền với vị trí xã hội và được hình thành qua hoạt động, giao tiếp. V.A. Yadov (1969) đề xuất cấu trúc định vị bốn bậc điều khiển hành vi xã hội. Ở phương Tây, C. Hovland, I. Janis và H. Kelley (1953) nhấn mạnh thuyết học tập xã hội và cơ chế củng cố, thuyết phục trong việc hình thành thái độ. Ngược lại, A. Tesser (1993) đưa ra góc nhìn sinh học khi nghiên cứu các cặp song sinh để chứng minh vai trò của yếu tố di truyền và khí chất đối với thái độ.
Dòng nghiên cứu thứ hai về cấu trúc và đo lường thái độ: Đa số các nhà tâm lý học xã hội thống nhất với mô hình ba thành phần xuất phát từ M.B. Smith (1942), sau đó được M.J. Breckler (1984), A.H. Eagly và S. Chaiken (1993) hoàn thiện: Nhận thức (Cognitive), Cảm xúc (Affective) và Hành vi (Behavioral). Về mặt trắc lượng, các thang đo kinh điển như Thang đo khoảng cách xã hội của E. Bogardus (1925), Thang đo khoảng cách bằng nhau của L. Thurstone (1928, 1929), Thang đo tổng cộng định mức 5 điểm của R. Likert (1932) và Thang đo đơn chiều của L. Guttman, R. Mokken (1971) đã thiết lập nền tảng chuẩn hóa dữ liệu thực nghiệm.
Dòng nghiên cứu thứ ba về tâm lý học cải tạo và thái độ của người chấp hành án phạt tù: Các nghiên cứu quốc tế tiêu biểu như A.G. Kovaliev (1968) đã mô hình hóa ba giai đoạn biến đổi tâm lý của phạm nhân (khủng hoảng khi mới nhập trại, xung đột - thích ứng với các biện pháp giáo dục, và tái cấu trúc tự ý thức trước khi mãn hạn). E. Schur (1969) phân tích cơ chế cân bằng tâm lý và cảm giác mặc cảm xã hội của tù nhân Mỹ. J. Boudouris và N. Brady (1981) khảo sát nhu cầu tham vấn tâm lý qua các bài luận của phạm nhân. H. Al-Saadat (2007) khảo sát thái độ của tù nhân tại Ả-rập Xê-út đối với các chương trình đào tạo từ xa và học nghề. L. Sadeghi (2009) và C. Yates (2009) đánh giá vai trò của các chương trình giáo dục trong việc hạ thấp tỷ lệ tái phạm. Tại Việt Nam, các tác giả Hoàng Cung (2006), Chu Văn Đức (2009), Hoàng Thị Bích Ngọc (1998) và Nguyễn Hữu Toàn (2013) đã bước đầu khám phá đặc điểm tâm lý, sự thích ứng và tự ý thức của người phạm tội.
TIẾN TRÌNH HỌC THUẬT VỀ TÂM LÝ HỌC THÁI ĐỘ VÀ CẢI TẠO
Trường phái Cổ điển & Cấu trúc Phương pháp Đo lường Tâm lý Cải tạo & Nhà tù
• A.F. Lazursky (1912): • E. Bogardus (1925): • A.G. Kovaliev (1968):
Hệ thống thái độ nhân cách Thang khoảng cách xã hội 3 giai đoạn tâm lý cải tạo
• S.L. Rubinstein & B.F. Lomov: • L. Thurstone (1928): • R. Corsini (1999) & E. Schur:
Tâm lý học Hoạt động - Giao tiếp Đo lường thái độ đơn chiều Nhu cầu phục hồi tại Auburn
• M.B. Smith / Eagly & Chaiken: • R. Likert (1932): • L. Sadeghi & C. Yates (2009):
Mô hình 3 thành phần (ABC) Thang đo cộng gộp 5 điểm Chương trình giáo dục trại giam
KHOẢNG TRỐNG HỌC THUẬT (GAP)
Chưa có công trình hệ thống hóa cấu trúc thái độ của phạm nhân
đối với Nội quy Trại giam trong môi trường giam giữ tại Việt Nam
VỊ TRÍ ĐỊNH VỊ CỦA LUẬN ÁN
Tích hợp mô hình ABC với Tâm lý học Hoạt động - Giao tiếp,
khảo sát thực nghiệm N=315 tại 03 trại giam Bộ Công an (C10)
Tranh luận học thuật cốt lõi diễn ra giữa quan điểm xem hành vi chấp hành NQTG là sự tuân thủ thụ động dưới áp lực cưỡng chế hình sự (Deterrence Theory) đối lập với quan điểm xem việc chấp hành là kết quả của quá trình chuyển hóa nhận thức và biến đổi cảm xúc tự thân (Rehabilitative Theory). Luận án định vị nghiên cứu vào nhánh thứ hai, so sánh đối chiếu sâu sắc với hai trường hợp quốc tế:
- Nghiên cứu của Raymond Corsini (1999) tại Nhà tù Auburn (Hoa Kỳ) chỉ ra 74% tù nhân có niềm tin sẽ trở nên tốt hơn sau khi ra tù và 50% thừa nhận cảm giác ăn năn, hướng về gia đình như động lực cải tạo lớn nhất.
- Nghiên cứu của H. Al-Saadat (2007) tại Ả-rập Xê-út khẳng định thái độ tích cực với các quy chuẩn nội quy trại giam có mối liên hệ trực tiếp với cơ hội tái hòa nhập xã hội thành công.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã mở rộng biên độ ứng dụng của Thuyết Tâm lý học Hoạt động - Giao tiếp của S.L. Rubinstein và B.F. Lomov vào một bối cảnh xã hội đặc thù mang tính cưỡng chế cao. Khái niệm thái độ của phạm nhân được chuẩn hóa: là một trạng thái tâm lý biểu hiện qua nhận thức, cảm xúc và xu hướng hành vi đối với hệ thống quy chuẩn của NQTG, định hướng trực tiếp đến kết quả phân loại cải tạo.
Công trình chứng minh cơ chế chuyển dịch "từ ngoài vào trong" (Interiorization): NQTG ban đầu xuất hiện như một hệ thống áp đặt hành chính ngoại sinh, nhưng qua quá trình giao tiếp sư phạm với CBQG, tương tác với bạn tù và duy trì kết nối tình cảm gia đình, các quy phạm pháp lý dần chuyển hóa thành nhu cầu tự điều chỉnh nhân cách nội sinh. Luận án bác bỏ quan điểm cơ học xem thái độ chỉ là phản xạ đối phó nhất thời, khẳng định tính ổn định tương đối và khả năng can thiệp sư phạm để tái cấu trúc nhân cách phạm nhân.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích được xây dựng trên sự tích hợp của ba trụ cột lý thuyết:
- Mô hình cấu trúc thái độ ba thành phần (ABC Model): Nhận thức (hiểu biết về tính hợp pháp, tính công bằng của NQTG), Cảm xúc (trạng thái an tâm, ăn năn, tôn trọng hay ức chế, lo âu), Hành vi (sự tự giác chấp hành hay chây lười, chống đối).
- Thuyết Hệ thống định vị nhân cách của V.A. Yadov: Đặt thái độ chấp hành NQTG vào hệ thống phân tầng từ tâm thế xã hội đơn giản đến định hướng giá trị hoàn lương cao nhất.
- Ma trận 5 nhóm nội dung NQTG: Luận án phân rã thái độ thành 5 chiều kích cụ thể theo quy định pháp lý của Bộ Công an:
- Thái độ đối với việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án và hình phạt tù.
- Thái độ đối với việc thực hiện chế độ sinh hoạt, học tập.
- Thái độ đối với việc thực hiện nghĩa vụ lao động, học nghề.
- Thái độ đối với việc thực hiện các quy tắc giao tiếp, lễ tiết, xưng hô.
- Thái độ đối với việc thực hiện kỷ luật trại giam và các điều cấm.
Điều kiện biên (Boundary conditions): Khung phân tích áp dụng đối với phạm nhân mang quốc tịch Việt Nam đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn tại các trại giam thuộc sự quản lý trực tiếp của Cục C10, Bộ Công an; không bao gồm đối tượng tạm giam, tạm giữ hoặc phạm nhân mang quốc tịch nước ngoài do có sự khác biệt về rào cản ngôn ngữ và tập quán văn hóa.
KHUNG PHÂN TÍCH THÁI ĐỘ CỦA PHẠM NHÂN ĐỐI VỚI NQTG
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng lập trường Triết lý Thực chứng (Positivism) kết hợp với Hiện thực phản biện (Critical Realism) trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và tư tưởng Hồ Chí Minh về cải tạo con người lầm lỗi.
Thiết kế nghiên cứu phối hợp phương pháp hỗn hợp tuần tự giải thích (Sequential Explanatory Mixed-Methods Design). Luận án triển khai hai cấp độ phân tích: cấp độ vi mô (trải nghiệm tâm lý, nhân khẩu học của từng cá nhân phạm nhân) và cấp độ trung mô (môi trường tương tác xã hội giữa các đội phạm nhân và tương tác với CBQG).
Mẫu khảo sát định lượng gồm $N = 285$ phạm nhân được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện tại 03 cơ sở giam giữ đại diện cho các điều kiện địa bàn và loại hình phạm nhân khu vực phía Bắc:
- Trại giam Phú Sơn 4 (Thái Nguyên)
- Trại giam Thanh Xuân (Hà Nội)
- Trại giam Hoàng Tiến (Hải Dương)
Mẫu nghiên cứu định tính bao gồm $N = 20$ phạm nhân thuộc các nhóm phân loại cải tạo khác nhau (Tốt, Khá, Trung bình, Kém) và $N = 10$ Cán bộ quản giáo có kinh nghiệm trực tiếp quản lý từ 5 năm trở lên.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập dữ liệu được kiểm soát nghiêm ngặt qua bốn bước:
- Nghiên cứu tài liệu và xây dựng công cụ: Tổng hợp văn bản pháp luật, Luật Thi hành án hình sự, Quy chế trại giam, thiết kế phiếu hỏi gồm các mệnh đề đóng đánh giá theo thang Likert 5 bậc (1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý).
- Khảo sát thử nghiệm (Pilot study): Tiến hành khảo sát thử trên 30 phạm nhân để kiểm tra độ rõ ràng của ngôn ngữ, loại bỏ các item mơ hồ và tối ưu hóa thời gian trả lời.
- Thu thập dữ liệu chính thức: Khảo sát trực tiếp tại các phân trại dưới sự bảo trợ của Ban Giám thị; phỏng vấn sâu cá nhân hóa đảm bảo tính bảo mật và khách quan.
- Triangulation (Tam giác đạc): Luận án thực hiện đối chiếu chéo giữa dữ liệu tự báo cáo của phạm nhân (Self-report questionnaire), đánh giá khách quan từ hồ sơ phân loại cải tạo của CBQG, và biên bản quan sát hành vi thực tế trong lao động, sinh hoạt.
Độ tin cậy của công cụ đo lường được kiểm định qua hệ số Cronbach's Alpha toàn phần và từng thang đo thành phần đều đạt $\alpha > 0.82$, phép đo độ tin cậy chia đôi (split-half) đạt mức tương quan $r > 0.78$, chứng minh tính nhất quán nội tại cao. Giá trị nội dung và giá trị cấu trúc được thẩm định bởi hội đồng 07 chuyên gia tâm lý học và cán bộ quản lý thi hành án hình sự.
QUY TRÌNH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Data và phân tích
Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Các kỹ thuật thống kê chuyên sâu được áp dụng:
- Thống kê mô tả: Tính Điểm trung bình (ĐTB), Độ lệch chuẩn (ĐLC), Tần số ($f$) và Tỷ lệ phần trăm ($%$).
- Phân phối điểm chuẩn thái độ và phân hạng mức độ tích cực (Tích cực cao, Tích cực trung bình, Không tích cực).
- Thống kê suy luận: Kiểm định Independent Samples T-Test so sánh khác biệt giới tính; Phân tích phương sai một yếu tố (One-Way ANOVA) so sánh nhóm học vấn, tiền án tiền sự và thời gian chấp hành án; Kiểm định tương quan Pearson ($r$) giữa ba thành phần nhận thức - cảm xúc - hành vi và kết quả phân loại thi đua cải tạo.
- Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (Multiple Linear Regression) nhằm lượng hóa mức độ dự báo của các biến độc lập ($X_1$: Niềm tin tương lai, $X_2$: Gia đình, $X_3$: Bạn tù, $X_4$: CBQG) đối với biến phụ thuộc ($Y$: Thái độ thực hiện NQTG).
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Phát hiện 1: Tính tích cực của thái độ ở mức trung bình và có sự phân hóa bất đối xứng giữa các thành phần. Dữ liệu khảo sát $N = 285$ chỉ ra điểm trung bình thái độ chung đạt mức trung bình khá ($\text{ĐTB} \approx 3.42 - 3.58$ trên thang điểm 5). Tuy nhiên, có sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê giữa ba mặt biểu hiện: Nhận thức có điểm trung bình cao nhất ($\text{ĐTB} = 3.82$), tiếp đến là Cảm xúc ($\text{ĐTB} = 3.46$), và thấp nhất là Hành vi ($\text{ĐTB} = 3.18$). Kết quả này chứng minh hiện tượng "khoảng cách nhận thức - hành vi" (Attitude-Behavior gap): Phạm nhân hiểu rõ các điều khoản NQTG là đúng đắn và cần thiết, nhưng việc chuyển hóa nhận thức đó thành hành vi tự giác trong lao động và kỷ luật thường xuyên bị cản trở bởi thói quen tự do, sức ì tâm lý và sự lôi kéo tiêu cực.
Phát hiện 2: Tương quan thuận chặt chẽ giữa thái độ và kết quả phân loại chấp hành án. Kiểm định Pearson xác nhận mối tương quan thuận mạnh mẽ và có ý nghĩa thống kê cao ($r = 0.642, p < 0.001$) giữa điểm tổng hợp thái độ thực hiện NQTG với kết quả phân loại thi đua (Tốt, Khá, Trung bình, Kém). Cả ba mặt nhận thức, cảm xúc và hành vi đều tương quan thuận đồng biến với nhau, chứng minh tính toàn vẹn cấu trúc của mô hình ABC trong môi trường giam giữ.
Phát hiện 3: Sự quan tâm của gia đình là biến số dự báo có trọng số ảnh hưởng lớn nhất. Mô hình hồi quy đa biến ($R^2 = 0.486, p < 0.001$) chỉ rõ thứ tự tác động của bốn yếu tố môi trường và tâm lý: $$\text{Thái độ NQTG} = \beta_0 + 0.384 \times \text{Gia đình} + 0.265 \times \text{Niềm tin tương lai} + 0.218 \times \text{Phong cách CBQG} + 0.154 \times \text{Quan hệ bạn tù}$$ Trong đó, sự quan tâm, động viên qua thư từ, thăm gặp của thân nhân ($\beta = 0.384, p < 0.001$) tạo ra điểm tựa tâm lý vững chắc nhất giúp phạm nhân triệt tiêu ý định chống đối và thúc đẩy nỗ lực cải tạo để sớm được giảm án, tha tù trước thời hạn.
MÔ HÌNH HỒI QUY DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ
Phát hiện 4: Phân hóa thái độ theo nhân khẩu học nhưng đồng nhất tuyệt đối về giới tính.
- Về học vấn: Phạm nhân có trình độ THPT, Cao đẳng/Đại học có điểm nhận thức và hành vi cao hơn rõ rệt so với nhóm mù chữ, tiểu học ($F = 8.45, p < 0.01$).
- Về tiền án: Nhóm phạm tội lần đầu thể hiện tính tích cực thái độ cao hơn hẳn nhóm có tiền án, tiền sự ($t = 4.12, p < 0.001$).
- Về giới tính: Kiểm định độc lập cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa phạm nhân nam và phạm nhân nữ ($t = 0.38, p = 0.704 > 0.05$). Cả hai giới đều có phản ứng nhận thức và cảm xúc tương đương nhau trước các quy định kỷ luật của trại giam.
Implications đa chiều
Về mặt lý thuyết: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định Thuyết Tâm lý học Hoạt động hoàn toàn phù hợp để giải thích hành vi con người trong môi trường mất tự do. Đóng góp dữ liệu nguyên bản cho phân ngành Tâm lý học Tư pháp và Tâm lý học Tội phạm tại Việt Nam.
Về mặt phương pháp luận: Xây dựng thành công bộ công cụ thang đo thái độ chấp hành NQTG chuẩn hóa, có thể chuyển giao và ứng dụng định kỳ tại các trại giam trên toàn quốc để sàng lọc rủi ro an ninh.
Về mặt thực tiễn và chính sách: Luận án đề xuất hệ thống 05 giải pháp can thiệp tâm lý - sư phạm đồng bộ:
- Đổi mới phương pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật và NQTG theo hướng đối thoại, thảo luận tình huống thay vì đọc văn bản một chiều.
- Thiết lập chương trình tham vấn tâm lý định kỳ, hỗ trợ phạm nhân giải tỏa cảm xúc tiêu cực, khủng hoảng khi mới nhập trại.
- Tổ chức các phong trào thi đua lao động, học nghề gắn liền với quyền lợi thiết thực (cộng điểm xếp loại, xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù).
- Chuẩn hóa phong cách giao tiếp mô phạm, công tâm của đội ngũ CBQG; ngăn chặn biểu hiện tiêu cực hoặc phân biệt đối xử.
- Phát huy cơ chế phối hợp ba bên giữa Trại giam - Gia đình - Chính quyền địa phương để xây dựng mạng lưới hỗ trợ xã hội liên tục.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu tồn tại một số giới hạn học thuật khách quan:
- Giới hạn về phạm vi địa bàn: Mẫu khảo sát định lượng tập trung tại 03 trại giam khu vực phía Bắc. Do đặc thù địa lý, khí hậu và tập quán sinh hoạt, kết quả có thể chưa phản ánh trọn vẹn đặc trưng tâm lý của phạm nhân tại các trại giam miền Trung và miền Nam.
- Giới hạn về nhóm đối tượng: Khách thể nghiên cứu chỉ bao gồm phạm nhân mang quốc tịch Việt Nam thụ án tù có thời hạn; chưa khảo sát nhóm phạm nhân tù chung thân và phạm nhân có quốc tịch nước ngoài.
- Phương pháp thiết kế: Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang (Cross-sectional), chưa thực hiện theo dõi dọc (Longitudinal study) để lượng hóa sự biến thiên thái độ của cùng một cá nhân từ lúc mới nhập trại, qua các năm thụ án, cho đến thời điểm chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) cần tập trung vào:
- Mở rộng quy mô khảo sát liên vùng (Bắc - Trung - Nam) với cỡ mẫu $N > 1000$.
- Ứng dụng kỹ thuật mô hình hóa phương trình cấu trúc (SEM - Structural Equation Modeling) để kiểm định các biến trung gian như lòng tự trọng, sự cắn rứt lương tâm và khả năng kiềm chế cảm xúc.
- Nghiên cứu chuyên sâu về thái độ chấp hành nội quy của nhóm phạm nhân phạm các tội xâm phạm An ninh quốc gia và nhóm phạm tội ma túy có tổ chức.
- Đánh giá hiệu quả thực nghiệm can thiệp tâm lý bằng các phương pháp trị liệu nhận thức - hành vi (CBT) trong môi trường trại giam.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án mang lại những tác động đa tầng đối với khoa học và xã hội:
Tác động học thuật: Làm phong phú hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy chuyên ngành Tâm lý học Tư pháp, Tâm lý học Nghiệp vụ Cảnh sát tại Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân và các trường Đại học Luật. Mở ra hướng tiếp cận định lượng hiện đại trong nghiên cứu tội phạm học.
Tác động nghiệp vụ trong ngành Công an: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Cục C10 - Bộ Công an trong việc sửa đổi, bổ sung quy chế quản lý giam giữ, hoàn thiện tiêu chí đánh giá phân loại thi đua chấp hành án phạt tù theo hướng khách quan, nhân văn.
Tác động chính sách và an sinh xã hội: Nâng cao chất lượng công tác giáo dục cải tạo giúp phạm nhân xóa bỏ mặc cảm tội lỗi, hình thành kỹ năng lao động và thói quen tuân thủ pháp luật. Điều này đóng góp trực tiếp vào mục tiêu quốc gia về phòng ngừa tái phạm tội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và tối ưu hóa chi phí tư pháp hình sự.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Tiếp cận một khung lý thuyết và bộ công cụ đo lường thực chứng đã được chuẩn hóa về tâm lý học phạm nhân trong môi trường giam giữ.
- Lãnh đạo Ban Giám thị và Cán bộ quản giáo: Có được cẩm nang chỉ dẫn tâm lý thực hành để nhận diện sớm các biểu hiện chống đối ngầm, từ đó lựa chọn phương pháp quản lý, giáo dục và giao tiếp phù hợp với từng nhóm nhân cách phạm nhân.
- Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách tư pháp: Có thêm bằng chứng dữ liệu thực tế để hoàn thiện chính sách ân xá, đặc xá, giảm án dựa trên sự chuyển biến thực chất về mặt thái độ và hành vi.
- Thân nhân phạm nhân và các tổ chức xã hội: Hiểu rõ vai trò then chốt của sợi dây liên kết gia đình trong việc tái tạo niềm tin và định hình con đường hoàn lương cho người lầm lỡ.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào? Đóng góp độc đáo nhất là việc vận dụng và mở rộng thành công Thuyết Tâm lý học Hoạt động - Giao tiếp của S.L. Rubinstein, B.F. Lomov kết hợp Mô hình cấu trúc thái độ ABC vào môi trường cưỡng chế giam giữ đặc thù. Luận án đã luận giải khoa học cơ chế chuyển hóa "từ ngoài vào trong", chứng minh rằng thái độ đối với NQTG không phải là sự áp chế cơ học mà là sự tái cấu trúc nhận thức và cảm xúc thông qua hoạt động lao động tập thể và giao tiếp sư phạm với CBQG.
2. Đột phá phương pháp luận của luận án so với các nghiên cứu trước đây thể hiện ở đâu? So với các nghiên cứu của Hoàng Cung (2006) hay Nguyễn Hữu Toàn (2013) vốn thiên về phân tích định tính hoặc khảo sát tỷ lệ phần trăm đơn biến, luận án đã xây dựng quy trình nghiên cứu hỗn hợp chuẩn hóa ($N = 315$), sử dụng thang đo Likert 5 bậc kiểm định Cronbach's Alpha ($\alpha > 0.82$), phân tích phương sai ANOVA và thiết lập mô hình hồi quy đa biến ($R^2 = 0.486$) trên SPSS 20.0 để lượng hóa chính xác trọng số tác động của các yếu tố ngoại sinh.
3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất và được lý giải như thế nào? Phát hiện bất ngờ nhất là sự tương đồng tuyệt đối về mức độ tính tích cực thái độ giữa phạm nhân nam và phạm nhân nữ ($p = 0.704 > 0.05$), mặc dù hai giới có sự khác biệt lớn về tâm sinh lý và loại hình tội phạm. Điều này được lý giải bằng tính chất chuẩn hóa, đồng nhất và kỷ luật nghiêm ngặt của môi trường NQTG Bộ Công an, tạo ra khung cưỡng chế và thích ứng tâm lý tương đương nhau ở cả hai giới.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản (Replication protocol) cho các nghiên cứu tiếp theo không? Có. Luận án mô tả chi tiết toàn bộ bảng hỏi tiêu chí đánh giá, ma trận item cho 5 nhóm nội dung NQTG, thang điểm phân loại tính tích cực (Tích cực cao, Trung bình, Không tích cực), quy chuẩn mã hóa dữ liệu SPSS và phương pháp chọn mẫu phân tầng tại các phân trại, cho phép các nhà nghiên cứu khác tái lặp kiểm định trên các địa bàn mới.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao? Chương trình nghiên cứu dài hạn hướng tới: (1) Xây dựng hệ thống phần mềm trắc nghiệm tâm lý tự động đánh giá thái độ phạm nhân định kỳ; (2) Tích hợp phương pháp trị liệu nhận thức - hành vi (CBT) vào chương trình giáo dục cải tạo bắt buộc; (3) Theo dõi dọc 10 năm quá trình tái hòa nhập cộng đồng để đánh giá mối tương quan giữa thái độ khi ở tù và tỷ lệ không tái phạm sau khi mãn hạn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Thị Như Nguyệt đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 06 kết luận cốt lõi:
- Xác lập cơ sở lý luận vững chắc, định nghĩa chuẩn xác thái độ của phạm nhân đối với NQTG là một trạng thái tâm lý toàn vẹn cấu thành từ ba mặt: nhận thức, cảm xúc và hành vi.
- Đánh giá khách quan thực trạng tính tích cực thái độ của phạm nhân tại 03 trại giam trọng điểm phía Bắc đạt mức độ trung bình, chỉ rõ sự bất đối xứng với điểm nhận thức cao nhất và điểm hành vi thấp nhất.
- Chứng minh mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê cao giữa thái độ chấp hành NQTG với kết quả phân loại thi đua cải tạo của người chấp hành án.
- Xác định mô hình hồi quy đa biến chỉ ra sự quan tâm của gia đình là yếu tố dự báo mạnh nhất ($\beta = 0.384$), theo sau là niềm tin tương lai, phong cách CBQG và quan hệ bạn tù.
- Khẳng định sự phân hóa thái độ theo học vấn, tiền án nhưng không có sự khác biệt theo giới tính trong môi trường giam giữ.
- Đề xuất 05 nhóm giải pháp tâm lý - sư phạm mang tính ứng dụng cao, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đổi mới công tác giáo dục cải tạo phạm nhân của lực lượng Công an nhân dân trong tình hình mới.