CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÍ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Đồng tính luyến ái đang là một chủ đề nóng không chỉ ở Việt Nam mà còn là ở trên thế giới. Tuy nhiên các tài liệu về đồng tính luyến ái lại chưa có nhiều, đặt biệt là Việt Nam, các tài liệu khoa học cũng như những đề sách nghiên cứu về đồng tính có rất ít, hoặc khó tiếp cận. Nếu tìm thấy , thì chủ đề đồng tính cũng chỉ là một hoặc hai chương trong cuốn sách, phạm vi nghiên cứu chưa bao quát hết.
Các tài liệu trên mang thì nhiều hơn, tuy nhiên cũng không thể gọi là phong phú và có độ tinh cậy chưa cao. Tài liệu ghi chép từ sách Ajahn Chan, Đời sống con người và xã hội ngay nay, 2010,NXB Phương Đông. Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập đến vấn đề sai lệch về tình dục, bao gồm: Đồng tính luyến ái, song tính luyến ái, ăn mặc như người khác giới. Tác giả đã trình bày rất rõ ràng những hiểu biết của mình về những khái niệm trên thông qua việc phân biệt khái niệm đồng tính luyến ái với các khái niệm giả dạng người khác giới và người thay đổi giới.
Theo bà: Đồng tính luyến ái là người cùng giới lôi cuốn nhau cả về tinh thần lẫn xác thịt. Giả dạng người khác giới: Thấy hài lòng trong việc mặc quần áo của người khác giới. Người thay đổi giới: Người có quyết định sống như người khác giới, có thể cương quyết đến mức dùng phẫu thuật để thay đổi hình dạng bên ngoài. Cũng theo tác giả, người đồng tính luyến ái không nhất thiết cũng giả dạng người khác giới hay là người thay đổi giới tính.
Và ngược lại người giả dạng người khác giới hay chuyển đổi giới cũng chưa chắc là người đồng tính luyến ái. Trong cuốn sách của mình, Ajahn Chan đã phân biệt rất kĩ các khái niệm trên, tuy nhiên đồng tính chỉ được bà miêu tả trong nội dung một chương, vài trang nên không tránh khỏi việc sơ lược, thiếu sót và còn nhiều nghi vấn. Bên cạnh đó bà cũng chỉ giải thích vấn đề dựa trên hiểu biết của mình mà không có những dẫn chứng nghiên 5 cứu khoa học làm cơ sở nên độ tin cậy chưa cao. Đàm Đại Chính, Văn Hóa Tình Dục và Pháp Luật.
2005,NXB Thế Giới. Đầu tiên, cuốn sách đã trình bày tổng quát về lịch sử đồng tính luyến ái ở phương Tây và Trung Quốc. trong đó có đề cập tới một trong những nơi đầu tiên xảy ra cuộc “cách mạng tình dục”, đó là nước Mỹ những năm 60,70 của thế kỉ 20, trong cuộc cách mạng này, những người đồng tính đã tập hợp lại, tổ chức biểu tình, công khai giới tính, đòi quyền lợi cho mình. Tiếp theo, cuốn sách còn đưa ra các lý thuyết về nguồn gốc Đồng tính Luyến ái, phân tích các ưu khuyết điểm của các thuyết đó: Thuyết tiết hoocmon không cân bằng: Theo thuyết này, người đồng tính nam có hoocmon nam thấp hơn người bình thường nên dẫn đến đồng tính.
Tuy nhiên, ngay cả những người có hoocmon nam thấp hơn bình thường cũng không phải đều là người đồng tính, cũng có số đông những người đó là người có thiên hướng tình dục bình thường. Như vậy, lý thuyết này là không chính xác. Thuyết nghiên cứu di truyền học: Theo di truyền học, đồng tính không chỉ có ở người mà còn rất phổ biến trong giới động thực vật, đặc biệt là loài linh trưởng, mà nguồn gốc có họ hàng gần với nguồn gốc con người. Tác giả còn nêu lên cơ chế giao phối kiểu nhị nguyên, một dạng để củng cố, duy trì thế mạnh trong nội bộ giới.
Cũng theo thuyết này thì nguồn gốc của đồng tính là do yếu tố gen, cho rằng những người đồng tính có bộ gen đã bị biến đổi một phần nào đó dẫn đến khuynh hướng giới tính thay đổi. Giả thuyết này tương đối thuyết phục tuy nhiên, tác giả lại đề cập đến sự di truyền kiểu gen bị biến đổi này, và giải thích rằng, tuy người đồng tính không thể có con, tuy nhiên do kiểu gen của họ khá mạnh nên họ có khuynh hướng gây tác động lên kiểu gen của anh chị em gần gũi với họ, và điều này giúp duy trì kiểu gen đó cho thế hệ sau. Kiểu giải thích này, không được ủng hộ nhiều lắm do sự phi lý của nó. Thuyết lý luận tâm lý học: Tâm lý học lại cho rằng đồng tính luyến ái là hậu quả do nguyên nhân đặt biệt thời kì trẻ thơ gây ra tâm lý không lành mạnh sau này.
Ngoài ra một phần còn do ảnh hưởng từ sự chăm sóc và nuôi dạy trong gia đình mà ra, ví dụ: Một đứa bé gái nếu dó người mẹ mong muốn có con trai mà không được nên đã nuôi dạy đứa bé gái như bé trai và cho ăn mặc như bé trai thì sẽ ảnh hưởng đến khuynh hướng biểu hiện giới tính của đứa bé ấy sau này. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng còn nhiều chỗ không giải thích được nên vẫn còn nhiều tranh cãi. Thuyết ảnh hường từ tập tục xã hội: Xảy ra trong xã hội mà đồng tính luyến ái được pháp luật thừa nhận, được dư luận xã hội khoan dung, trong bầu không khí “ tự 6 do tình dục”, nhiều người đã muốn thử sống như một người đồng tính dần dần trở nên quen thuộc và không muốn trở lại giới tính của mình nữa. Tác giả của cuốn sách có vẻ tán đồng với ý kiến này, tuy nhiên việc giải thích cũng chỉ mới dừng lại ở những giả định, chưa thật sự thuyết phục.
Ngoài ra trong cuốn sách của mình, tác giả còn tìm ra đươc thái độ của pháp luật đối với đồng tính luyến ái: Từ thời trung cổ đến nay, cả giáo lý Cơ Đốc giáo và pháp luật phương Tây đều đánh đồng đồng tính luyến ái với những hành vi biến thái (giao cấu với trẻ vị thành niên.) hay tình dục biến dạng ( thích khoe với người khác bộ phận sinh dục.) là một và có thái độ ghê tởm, xem đồng tính là bệnh hoạn và trừng trị rất dã man ( thiêu sống, chém đầu, ném đá…hay nhẹ nhất là bỏ tù). Ở Trung Quốc, trước đây, đồng tính luyến ái cũng bị kì thị, cho là sản phẩm “ngoại lai” từ phương Tây và người đồng tính cũng bị cho là bệnh hoạn, biến thái và cần phải trừng trị thích đáng. Từ năm 1991, bắt nguồn từ việc mở cửa và hội nhập thế giới, việc nhìn nhận và thái độ đối với đồng tính luyến ái mới thận trọng và có trách nhiệm hơn. Ở Phương Tây hiện nay, nhiều quan niệm mới về đồng tính luyến ái cũng được hình thành.
Theo những quan niệm đó: chỉ cần hành vi đồng tính luyến ái của thiểu số người không làm đồi bại phong tục hoặc tổn thương trật tự xã hội thì nên khoan dung và bảo hộ, không tố tụng và sử dụng hình phạt, dư luận cũng không nên trách mắng, kì thị. Cuốn sách đã đưa ra được nhiều thông tin về quan điểm nhìn nhận của xã hội về vấn đề đồng tính từ xưa cho đến nay, cũng như thái độ của pháp luật đối với người đồng tính. Tuy nhiên các thông tin tác giả đưa ra chỉ là ở phương Tây và Trung Quốc, còn tình hình ở Việt Nam thì vẫn còn bỏ ngỏ. Khuất Thu Hồng- Lê Bạch Dương- Nguyễn Ngọc Hường,Tình dục chuyên dễ đùa khó nói, 2009, NXB Tri Thức.
Các thông tin mà tác giả đưa ra trong cuốn sách đều nhằm trả lời cho các câu hỏi: Tình dục đồng giới được hiểu như thế nào? Người có khuynh hướng tình dục đồng giới được nhìn nhận ra sao? Thái độ của xã hội đối với họ như thế nào? 7 Trong cuốn sách tác giả đưa ra các khái niệm: Tình dục đồng giới: Tình dục giữa những người cùng giới tính. Khuynh hướng tình dục: Chỉ việc một người bị hấp dẫn tình dục với người cùng giới (đồng tính luyến ái) hay khác giới ( dị tính luyến ái) hoặc cả hai giới ( song tính luyến ái) Nhân dạng tình dục: Đồng tính, dị tính hay song tính luyến ái. Nhân dạng giới: Là cảm nhận của cá nhân về các đặc điểm, giá trị và các mối quan hệ của mình như là nam giới, nữ giới hay một giới khác. Hành vi tình dục: Thực hành tình dục, hành vi tình dục không nhất thiết phản ánh nhân dạng tình dục và ngược lại.
Ngoài ra tác giả còn phân biệt: Đồng tính luyến ái: Từ Hán Việt chỉ quan hệ tình yêu tình dục giữa những người cùng giới tính, mang tính “ hàn lâm” cao. Một số từ lóng tiếng Việt để chỉ đồng tính luyến ái như: đồng cô, bóng, pê đê, kê gian… MSM( man have sex with men)/ WSW( women have sex with women): được tác giả cho là những thuật ngữ nghèo nàn không thể mô tả các biến thể của hành vi tình dục, được dùng như một cách phân loại hành vi tình dục nhằm xác định rõ các hành vi chủ yếu hoặc các nhóm có hành vi đặt trưng khiến cho nhóm đó có nguy cơ cao đối với việc lây nhiễm HIV. Những MSM / WSW chưa chắc là những người đồng tính mà chỉ là những người có hành vi tình dục với người đồng giới. Tuy nhiên do không có sự giải thích và thống nhất mà trên thế giới và cả ở Việt Nam, thuật ngữ này đã được sử dụng rất tùy tiện và đánh đồng với thuật ngữ đồng tính nam/ nữ.
Sau khi đã trình bày các khái niệm, tác giả còn đưa ra được tình hình về quan niệm của xã hội Việt Nam về đồng tính: Mối quan hệ giữa đồng tính luyến ái và nguyên nhân lây truyền HIV, ảnh hưởng của vấn đề đối với truyền thống, cái nhìn của pháp luật đối với vấn đề. Và quan trọng nhất là ảnh hưởng và thái độ của báo chí, truyền thông đối với vấn đề này: Tác giả chỉ ra tầm ảnh hưởng của báo chí đối với nhận thức và thái độ của mọi người đối với đồng tính là rất lớn. Tuy nhiên cái nhìn của báo chí lại thường không khách quan, tiêu cực, lên án, phê phán nặng nề. Khi viết bài về người đồng tính, các nhà báo thường tập trung nhấn mạnh về sự “ đặc biệt” của các vụ án liên quan đến người đồng tính, một số khác khi viết bài có trích dẫn ý kiến của những chuyên gia về sức khỏe sinh 8 sản, tuy nhiên những người này khi cho ý kiến cũng có “ lẫn lộn giữa khía cạnh đạo đức và y học”.
Những thiếu hụt về kiến thức khoa học lại được họ bù đắp bằng những luận điểm đạo đức.