Chương 1: Các quy đinh về thuế quan của WTO và các cam kêt gia nhập của Việt Nam Chương 2: Tình hình thực hiện các cam kết về cắt giảm thuế quan của Việt Nam sau khi gia nhập WTO Chương 3: Những thách thức đối với việc thực hiện cam kết cắt giảm thuế quan của Việt Nam sau khi gia nhập WTO và các kiến nghị 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ THUẾ QUAN CỦA WTO VÀ CAM KẾT GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM 1. Những khái niệm cơ bản về thuế quan của WTO 1.1 Thuế quan và các phí khác 1. Thuế quan Thuế quan là thuế hải quan hoặc thuế xuất nhập khẩu là tên gọi chung để chỉ hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại hàng hóa là thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu. Thuế này do nhà nước thu khi hàng hoá được đưa vào lưu thông trong một nước.
Thông thường, thuế được thu khi hàng hoá được thông quan với mục đích tiêu dùng trong nước. Thuế xuất khẩu là một công cụ mà các nước đang phát triển thường sử dụng để đánh vào một số mặt hàng nhằm tăng lợi ích quốc gia. Trái lại, ở nhiều nước phát triển người ta không sử dụng thuế xuất khẩu do họ không đặt mục tiêu tăng nguồn thu ngân sách từ thuế xuất khẩu. Vì vậy, ở những nước đó, khi nói tới thuế quan người ta đồng nhất nó với thuế nhập khẩu.
Phí nội địa Theo định nghĩa của GATT, thuế quan, tức thuế hải quan thông thường, khác với các thuế hay phí nội địa như thuế doanh thu, thuế tiêu thụ, hoặc thuế giá trị gia tăng. Các thuế hay phí trong nước cũng được phép đánh vào hàng nhập khẩu, với điều kiện là trị giá của thuế hoặc phí này không được vượt quá mức thuế đánh vào hàng hoá trong nước. Yêu cầu này được gọi là "đối xử quốc gia" (Điều II:2 và Điều III của GATT). Thuế và phí khác Điều II:1(b) của GATT yêu cầu hàng hoá có cam kết thuế suất trần sẽ được miễn mọi loại thuế và phí khác vượt ra ngoài mức thuế trần.
Yêu cầu này là cần thiết vì việc thu hoặc tăng những phí như vậy có thể làm giảm giá trị của các ràng buộc thuế quan. Nhằm làm rõ hơn quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong quan hệ với "các thuế và phí khác", các thành viên đã thống nhất rằng những loại phí 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (thuế) như vậy cần được ghi trong các danh mục ưu đãi thuế quan. Yêu cầu này được ghi tại Bản giải thích Điều II:1(b). Mức thuế hoặc phí được đưa vào trong danh mục của một nước sẽ bị ràng buộc là mức cao nhất và bất cứ thuế hoặc phí nào bị bỏ qua không đưa vào danh mục thì về sau sẽ không được đưa ra áp dụng.
Các thành viên WTO được quyền chất vấn về sự tồn tại của các loại thuế và phí khác trong vòng ba năm kể từ khi WTO có hiệu lực, hoặc ba năm sau ngày gửi danh mục các cam kết tới Tổng Giám đốc WTO. Các dạng thuế quan Các dạng thuế quan thường dùng là thuế theo trị giá và thuế đặc định. Các dạng khác có thể thấy là thuế đặc định thay thế và thuế gộp, đôi khi được gọi là thuế hỗn hợp. Thuế theo trị giá Thuế theo trị giá được diễn tả theo phần trăm của trị giá hàng hoá nhập khẩu.
Ví dụ thuế 10% nghĩa là thuế được thu ở mức 10% của trị giá khai báo để đóng thuế của hàng hoá. Thuế đặc định Thuế đặc định được diễn tả bằng trị giá tiền theo đơn vị số lượng của hàng hoá. Ví dụ: 5 cents cho 1 kg; 1,10$ cho 1 lít. Thuế đặc định thay thế Để tính thuế đặc định thay thế cần tính cả thuế theo trị giá và thuế đặc định, mức phải trả bằng giá trị nào cao hơn trong hai dạng trên.
Ví dụ: 35% hoặc 3$ một đơn vị - mức thuế nào có trị giá cao hơn thì sẽ áp dụng mức thuế đó. Thuế gộp Thuế gộp bao gồm cả thuế theo trị giá và thuế đặc định. Trong trường hợp này, trị giá thuế được tính bằng cả hai cách. Ví dụ, 15% cộng với 25$ một tấn.
Thuế tương đương tính theo trị giá (AVE) 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi áp dụng thuế đặc định hoặc thuế gộp, thông thường cần phải tính AVE để có thể so sánh thuế hoặc để xác định sự phù hợp với mục tiêu của thuế theo trị giá. Có nhiều cách để tính AVE. Nếu có các số liệu đầy đủ thì một phương pháp tương đối dễ dàng là biểu thị trị giá của của thuế đã thu đối với hàng hoá trong một dòng thuế theo phần trăm trị giá tính thuế của hàng hoá đó. Ví dụ, nếu thuế của một mặt hàng là 3,50$ một đơn vị và tổng thuế đã thu đối với hàng nhập trị giá 175.000$, khi đó AVE sẽ bằng: 80000$/175000$ x 100= 45,7% Các nguyên tắc của GATT thường không chỉ rõ dạng thuế nào có thể bị ràng buộc.
Phần lớn các thuế bị ràng buộc trên cơ sở phần trăm trị giá nhưng đã có trường hợp các loại thuế đặc định thay thế và thuế đặc định có thể bị ràng buộc, tùy theo thực tế thu thuế của từng nước. Với xu hướng tự do hoá thương mại toàn cầu, ở nhiều nước, người ta cố tránh áp dụng các dạng thuế phức tạp. Xu hướng này đã được thể hiện trong các danh mục ưu đãi thuế quan của WTO. Thuế tính theo trị giá cho phép so sánh một cách đơn giản thuế suất giữa các nước hoặc những thay đổi của thuế bình quân của một nước trong một khoảng thời gian nhất định.
Thuế đặc định thường kém minh bạch hơn thuế tính theo trị giá và tác dụng bảo hộ của chúng cũng thường khó xác định được. Nói chung, tác dụng bảo hộ của loại thuế này thường tăng lên khi giá của hàng hoá nhập khẩu giảm đi, khác với tác dụng của thuế tính theo trị giá. Thuế đặc định thay thế cũng kém rõ ràng nhưng chúng thường hữu dụng khi việc định giá hàng hoá còn đang tranh cãi, ví dụ như đối với xe có động cơ đã qua sử dụng. Trong chương trình cải cách kinh tế trong hơn 8 năm qua, New Zealand không chỉ giảm thuế quan một cách đáng kể mà gần như còn loại bỏ tất cả các thuế đặc định.
Thuế đặc định thay thế vẫn còn được giữ lại đối với một số loại y phục (sau khi loại bỏ các hạn chế về số lượng) và đối với xe có động cơ đã qua sử dụng. Hệ thống phân loại thuế quan 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các thành viên WTO sử dụng Hệ thống Hài hoà Mô tả và Mã số Hàng hoá (HS) để phân loại thuế quan, phù hợp với Công ước Quốc tế của Tổ chức Hải quan Thế giới (trước là Hội đồng Hợp tác Hải quan) tại Brussels. Hệ thống HS đưa ra danh mục thuế quan sắp xếp trên cơ sở mã 6 chữ số và đòi hỏi tất cả những nước sử dụng phải phân loại các hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu trên một cơ sở chung. Các nước được tự do đưa ra các dòng thuế bổ sung nằm ngoài mức 6 chữ số với mục đích thu thuế hoặc thống kê với điều kiện họ phải tuân thủ các nguyên tắc phân loại.
Việc sử dụng hệ thống chung về phân loại thuế quan mang lại nhiều thuận lợi cho nhiều nước. Các cuộc đàm phán thuế quan được đơn giản hoá và việc so sánh thuế quan giữa các nước trở nên dễ dàng hơn. Ngoài ra, thương mại cũng đỡ phức tạp cho nhà xuất khẩu và nhập khẩu. Định giá hải quan GATT công nhận rằng những phương pháp khác nhau về định giá hàng hoá để thu thuế hải quan có thể làm ảnh hưởng tới tổng trị giá thuế phải trả và do đó ảnh hưởng tới giá trị của các ưu đãi thuế quan.
Vấn đề này đã được đề cập tại Điều VII và được làm rõ tiếp sau đó trong Hiệp định WTO về việc thực hiện Điều VII. Yêu cầu chính của Hiệp định này là cần sử dụng trị giá trao đổi hàng hoá để tính trị giá thuế phải trả chứ không phải là một trị giá trung gian hoặc không có thật nào đó. Cơ sở chung nhất cho định giá hải quan là giá CIF (trị giá - bảo hiểm - cước vận tải) hoặc giá FOB (giá xếp hàng lên tàu). Mục đích của thuế quan Phân biệt các tác dụng của thuế quan là cần thiết ngay cả nếu trên thực tế ta có thể không xác định được tác dụng nào là quan trọng nhất trong một trường hợp cụ thể nào đó.
Các tác dụng đó là: Nguồn thu của chính phủ; Thúc đẩy phát triển kinh tế; Thúc đẩy các mục tiêu xã hội; 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tạo cơ sở cho đàm phán thương mại. Nguồn thu của chính phủ Thuế hải quan là thành phần quan trọng trong tổng thu thuế của chính phủ tại nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển còn thiếu hệ thống thuế thay thế có hiệu quả. Việc cắt giảm thuế quan chung xuất phát từ cải cách thuế quan hoặc từ đàm phán thuế quan có thể làm giảm cơ sở thu nhập này. Điều XXVIII bis (3) của GATT công nhận sự cần thiết của các nước đang phát triển duy trì thuế quan cho mục đích ngân khố quốc gia.
Mặt khác, trong tiến trình cải cách kinh tế, một số nước đã chuyển từ thuế hải quan sang các dạng thuế khác của nguồn thu ngân sách như các loại thuế đánh vào thu nhập hoặc vào tiêu dùng (thuế doanh, thu thuế giá trị gia tăng hoặc các dạng tương tự). Có một số nguyên nhân kinh tế hợp lý cho xu hướng giảm bớt thu thuế tại cửa khẩu và xu hướng này càng được củng cố với việc cắt giảm thuế quan, kết quả của các cuộc đàm phán thương mại trong vòng hơn 50 năm qua. Phát triển kinh tế Điều XVIII của GATT công nhận rằng các nước đang phát triển có thể nhiều khi cần duy trì các biện pháp nhập khẩu mang tính bảo hộ với mục tiêu thúc đẩy kinh tế. Thuế quan theo truyền thống là phương tiện chính trợ giúp công nghiệp, nhưng lý thuyết kinh tế hiện đại đã nhấn mạnh gánh nặng mà thuế quan đã đặt lên nền kinh tế nói chung và lĩnh vực xuất khẩu nói riêng.
Do đó, nhiều nước hiện nay đã đưa ra mức thuế tương đối thấp hoặc vừa phải cho mục đích bảo hộ công nghiệp nhằm đạt hiệu quả kinh tế. Đối với các hàng hoá công nghiệp, thuế bình quân giữa các thành viên WTO đã giảm từ 40% năm 1948 xuống 4,7% vào năm 1994.