PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài - Giá cả xăng dầu nhiều năm qua là bài toán tốn nhiều giấy mực của báo giới, là câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp thỏa đáng đối với người tiêu dùng Việt Nam. Ở vị trí một người tiêu dùng Việt Nam, bản thân cũng muốn góp phần tìm ra câu trả lời, tìm ra lời giải hay biện pháp có ích trong việc hạn chế những tác động do biến động thất thường của giá cả của xăng dầu lên chi phí sản xuất. Hạn chế những tổn thất mà xã hội phải gánh chịu do biến động của chi phí xăng dầu gây ra.
Đó là lý do đề tài này được chọn để nghiên cứu. Do kiến thức hiểu biết có hạn, cùng với những khó khăn trong quá thu thập số liệu nên đề tài không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Mục đích nghiên cứu của đề tài Mục đích nghiên cứu của đề tài về xăng dầu nhằm: - Khái quát về thị trường xăng dầu và hoạt động kinh doanh xăng dầu trong và ngoài nước - Tìm hiểu mức độ tham gia thị trường xăng dầu kỳ hạn, giao sau của các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu xăng dầu đầu mối, các đại lý bán lẻ, người tiêu dùng - Tìm ra những nguyên nhân và hệ quả từ “sự độc quyền và được bảo hộ” trong họat động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam. - Tìm hiểu về giá cả xăng dầu ở Việt Nam một số năm gần đây, phân tích những nguyên nhân, những biến động, những tác động của giá cả xăng dầu lên đời sống kinh tế xã hội nói chung và chỉ số tiêu dùng CPI hàng năm nói riêng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 - Trả lời câu hỏi nên hay không khuyến khích các thành phần kinh tế, người tiêu dùng tham gia thị trường kỳ hạn, giao sau xăng dầu. Lợi ích đem lại của việc phát triển được thị trường giao sau, kỳ hạn về xăng dầu ở Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Các CCPS như: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau, quyền chọn, quyền hoán đổi. đã và đang là công cụ phòng chống rủi ro hiệu quả đối với các nước, các tổ chức, cá nhân ở nhiều nước trên thế giới.
Chúng được ứng dụng trong nhiều loại thị trường ở các nước phát triển trên thế giới, trong đó có thị trường kinh doanh xăng dầu. - Đối tượng nghiên cứu tập trung vào giá cả xăng dầu trên thế giới, mà đặc biệt là tại Việt Nam. Đối tượng cũng là các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu phân phối xăng dầu đầu mối cũng như bán lẻ, người tiêu dùng, các chính sách của Nhà nước về xăng dầu, các hợp đồng kỳ hạn, giao sau xăng dầu, chính sách tỉ giá… - Phạm vi nghiên cứu là giá cả xăng dầu, các sản phẩm kinh doanh xăng dầu tại thị trường Việt Nam trong mối tương quan so sánh với thị trường xăng dầu thế giới. Phương pháp nghiên cứu - Luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu như: Phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích số liệu bằng hồi qui.
- Luận văn sử dụng tài liệu tham khảo từ báo chí, báo điện tử, các báo cáo tổng hợp của các tổ chức, các qui định quyết định về kinh doanh xăng dầu của Nhà nước; lý thuyết quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau; lý thuyết thống kê: tổng hợp số liệu giá cả xăng dầu, đánh giá sự tác động của những thay đổi trong giá xăng dầu lên đời sống, kinh tế, đặc biệt là chỉ số hàng hóa CPI hàng năm 5. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài - Việc ứng dụng CCPS vào họat động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam nhằm giúp bình ổn giá cả, từng bước đưa họat động kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 đúng nghĩa, xóa bỏ độc quyền. Giúp doanh nghiệp chủ động trong công tác hoạch định chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh; tránh những biến động thái quá không lường trước lên giá thành sản phẩm, giá bán sản phẩm, mà đối với nhiều doanh nghiệp phần lớn do biến động chi phí xăng dầu gây ra. Nhà nước có thể hạn chế nhập khẩu lạm phát, giảm sức ép chi ngân sách cho hoạt động hỗ trợ, bù lỗ do những biến động tăng đột biến của giá cả xăng dầu, mà điển hình như trong năm 2008.
Do đó, nghiên cứu việc ứng dụng các CCPS vào trong hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam là rất cần thiết. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ PHÁI SINH VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XĂNG DẦU 1. Tổng quan về sự hình thành và phát triển các công cụ phái sinh 1. Lịch sử hình thành và phát triển các công cụ phái sinh 1.
Lịch sử hình thành các công cụ phái sinh - Người ta đã tìm thấy nguồn gốc của thị trường kỳ hạn (TTKH) ngay từ thời Trung cổ tại Châu Âu. Do những hạn chế trong vận chuyển và thông tin liên lạc thời đó, nên việc giao thương mua bán diễn ra hết sức đơn giản. Tuy nhiên, bên cạnh đó một số hợp đồng kỳ hạn (HĐKH) dần trở nên phổ biến. Mối quan hệ trong HĐKH được hình thành giữa người mua và người bán là thương nhân và nông dân.
Vào những năm mất mùa, người nông dân trữ hàng làm giá cả tăng cao, điều này gây khó khăn cho giới thương nhân. Ngược lại, khi bội thu giới thương nhân lại dìm giá xuống, gây khó khăn cho người nông dân. Để tránh tình trạng đó, thương nhân và người nông dân đã gặp nhau trước mỗi vụ mùa để thỏa thuận giá cả trước. Như vậy, rủi ro về giá của cả hai bên đã được giải quyết.
- Trong suốt thế kỷ thứ 16, sự linh họat của TTKH được cải thiện cùng với sự nổi lên của TTCK Pari. Vào giữa thế kỷ thứ 17, TTKH được phát triển trên TTCK Amsterdam, với nét đặc trưng của cả HĐKH hàng hóa và quyền chọn, chẳng hạn như về lúa mì, cá trích và cổ phiếu của nước ngoài. Tuy nhiên, thị trường giao sau (TTGS) chính thức đầu tiên trên thế giới ra đời tại thành phố Chicago, Hoa Kỳ. Lịch sử phát triển các công cụ phái sinh - Vào thập niên 40 thế kỷ 19, Chicago đã trở thành một trung tâm thương mại lớn của Hoa Kỳ.
Cũng trong thời gian đó, máy gặt lúa mì đã được phát minh, giúp cho năng suất sản xuất lúa mì tại Mỹ tăng lên rất nhanh chóng. Do đó, những người nông dân trồng lúa mì từ khắp nơi đều quy tụ về Chicago để bán sản phẩm của họ. Hoạt động này dần trở nên sôi nổi đến mức hầu như không đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân. Ngoài ra, sự tồn tại những phương pháp nghèo nàn trong việc cân và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 phân loại hàng hóa đã đẩy người nông dân vào tình thế phải chịu sự định đoạt của các thương nhân.
- Năm 1848, trung tâm giao dịch The Chicago Board of Trade (CBOT) đã được thành lập. Ở trung tâm giao dịch CBOT, người nông dân và các thương nhân có thể mua bán trao ngay tiền mặt và lúa mì theo tiêu chuẩn về số lượng và chất lượng do CBOT qui định. Nhưng các giao dịch ở CBOT thời bấy giờ chỉ dừng lại ở hình thức của một chợ nông sản, vì hình thức mua bán chỉ là nhận hàng và trao tiền đủ, sau đó thì quan hệ các bên chấm dứt. Trong vòng vài năm, một kiểu hợp đồng mới xuất hiện dưới hình thức là các bên cùng thỏa thuận mua bán với nhau một số lượng lúa mì đã được tiêu chuẩn hóa vào một thời điểm trong tương lai.
Nhờ đó, người nông dân biết mình sẽ nhận được bao nhiêu cho vụ mùa của mình, còn thương nhân thì biết được khoản lợi nhuận dự kiến. Hai bên ký kết với nhau một hợp đồng và trao một số tiền đặt cọc trước gọi là “tiền bảo đảm”. Quan hệ mua bán này là hình thức của HĐKH (forward contract). - Quan hệ mua bán dưới hình thức HĐKH ngày càng phát triển và trở nên phổ biến đến nỗi ngân hàng cho phép sử dụng loại hợp đồng này làm vật cầm cố trong các khoản vay.
Người ta bắt đầu mua đi bán lại trao tay chính loại hợp đồng này trước ngày nó được thanh lý. Nếu thương nhân không muốn mua lúa mì thì họ có thể bán lại cho người khác cần nó hoặc người nông dân không muốn giao hàng thì họ có thể chuyển nghĩa vụ của mình cho người nông dân khác. Giá cả hợp đồng lên xuống dựa vào diễn biến của thị trường lúa mì. Nếu thời tiết xấu xảy đến thì người bán lại hợp đồng đó sẽ thu được nhiều lãi vì nguồn cung hàng đang thấp đi nên giá hợp đồng sẽ tăng, nếu vụ mùa thu được nhiều hơn sự mong đợi thì người bán hợp đồng sẽ mất giá vì người ta có thể trực tiếp mua lúa mì trên thị trường tự do.
Cứ như thế, các quy định cho loại hợp đồng này ngày càng chặt chẽ và người ta quên dần việc mua bán HĐKH lúa mì mà chuyển qua lập các hợp đồng giao sau (HĐGS) lúa mì. Vì chi phí cho việc giao dịch loại hợp đồng mới này thấp hơn rất nhiều và người ta có thể dùng nó để bảo hộ giá cả cho chính hàng hóa của họ. Từ đó trở đi, những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 người nông dân có thể bán lúa mì của mình bằng cả ba cách: trên thị trường giao ngay, trên TTKH (forward) hoặc tham gia vào TTGS (futures). - Lịch sử phát triển của TTGS không dừng lại ở đó.
Đến năm 1874, The Chicago Produce Exchange được thành lập và sau này đổi tên thành Chicago Mercantile Exchange (CME), giao dịch thêm một số loại nông sản khác và trở thành TTGS lớn nhất Hoa Kỳ. Năm 1972, CME thành lập thêm The International Monetary Market (IMM) để thực hiện các loại giao dịch HĐGS về ngoại tệ. Sau đó, xuất hiện thêm các loại HĐGS tài chính khác như HĐGS tỉ lệ lãi suất (Interest rates), HĐGS về chỉ số chứng khoán… - Ngày nay, TTGS đã vượt xa khỏi giới hạn của hợp đồng nông sản ban đầu, nó trở thành công cụ tài chính để bảo vệ các loại hàng hóa truyền thống và cũng là một trong những công cụ đầu tư hữu hiệu nhất trong ngành tài chính. TTGS hiện nay hoạt động liên tục thông qua hệ thống Globex nối liền 12 trung tâm tài chính lớn trên thế giới.