Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở NGỌC THANH 1. Tộc danh, nguồn gốc, dân số và phân bố dân cư * Tộc Danh Từ lâu, người Sán Dìu vẫn tự gọi dân tộc mình là San Dáo Nhín, có nghĩa là Sơn Dao Nhân, tức người Dao ở trên núi. Tuy nhiên, các dân tộc lân cận dựa trên đặc điểm cư trú, phương thức canh tác hoặc y phục truyền thống mà dùng những các tên khác để chỉ người Sán Dìu như: Trại đất (người trại ở nhà đất) để phân biệt với Trại cao (người Cao Lan ở nhà sàn), Trại ruộng, Trại cộc, Mán cộc, Mán quần cộc, Mán váy xẻ, Sán Dao… Từ thế kỉ XVIII, trong tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê Kiến văn tiểu lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726- 1784), bản dịch của Phạm Trọng Điềm, đã đề cập về nhiều dân tộc ở miền Bắc Việt Nam. Ở mục Phong vực có nói đến các tộc người ở Tuyên Quang như: người Nùng, người Xá, người La Quả, người Thổ, người Man…, đặc biệt, sách ghi có tới “bảy chủng người Man” là : Sơn Trang, Sơn Tử, Cao Lan, Sơn Man, Sơn Bán, Sơn Miêu, Hờn Bạn.
[11] Trong số các tên được nhắc tới, đáng lưu ý nhất là tên Sơn Man. Theo Ma Khánh Bằng, tên Sơn Man mà Lê Quý Đôn nhắc đến ở đây chính là người Sán Dìu. Vì dưới chế độ phong kiến Việt Nam, không riêng gì người Dao mà nhiều dân tộc khác như Hmông, Pà Thẻn, và người Cao Lan… đều được gọi là Man; nhưng một điều chắc chắn là tất cả các nhóm Dao đều được gọi là Mán hoặc Man. Như vậy, ta có thể nghĩ rằng Man ở đây là Dao, Sơn Man tức là Sơn Dao hay cũng chính là Sán Dìu như bản thân họ vẫn tự nhận.
[1, T13] 8 Cho đến năm 1960, Tổng cục Thống kê mới ghi nhận tên Sán Dìu. Và cũng từ đó, tên Sán Dìu được khẳng định như một tên gọi chính thức của dân tộc này trong các văn bản của Đảng và Nhà nước. * Nguồn Gốc Nước ta là một quốc gia đa ngôn ngữ, đa dân tộc. Với 54dân tộc khác nhau nhưng cư trú xen kẽ nhau, sống trong một khối đại đoàn kết, sự hòa trộn về văn hóa đó góp tạo nên một đất nước Việt Nam với bản sắc văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng nhưng trong một thể thống nhất.
Sán Dìu là một bộ phận góp phần tạo nên nền văn hóa đó. Sán Dìu là một trong 53 dân tộc thiểu ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán – Tạng có nguồn gốc từ Quảng Đông – Trung Quốc. Có ý kiến cho rằng tộc người Sán dìu vào Việt Nam vào cuối thời Minh do chiến tranh loạn lạc, triều đình đàn áp tộc người này quá nên họ đã bỏ đi lưu tán khắp nơi và xuống Việt Nam sau đó định cư và ổn định ở 1 số tỉnh đông bắc. Hay theo điều tra của các nhà Dân tộc học và Khảo cổ học thì Người Sán Dìu có mặt ở Việt Nam cách đây khoảng 300 – 400 năm.
Theo gia phả một số dòng họ lâu đời ở ngọc Thanh như: họ Lâm, Trương, Lưu thì người Sán Dìu tới Ngọc Thanh khoảng 8 đến 10 đời. Họ cư trú ổn định và định cư làm ăn sinh sống từ đó tới nay. Trong tài liệu “ Người Sán Dìu ở Bắc Giang” – Ngô Văn Trụ và “ Người Sán Dìu ở Việt Nam” dựa theo quyển truyện thơ chữ Hán: Vũ Nhi Thư Cộng Đồng Thiêm Thử Vương( chuyện kể về vũ nhi và vua Cóc). Chuyện Vu Nhi nói về cảnh dì ghẻ con chồng, sự độc ác dã man của người dì ghẻ.
Tuy nhiên truyện thơ này cũng cho ta biết thêm về sự hình thành của một gia đinh, dòng tộc. Trong câu chuyện nhiều lần đã nhắc đến các địa danh ở Trung Quốc ngày nay. Bước đầu nhận định người Sán Dìu có nguồn gốc từ Trung Quốc, tổ tiên của họ không phải ở Việt Nam. 9 Còn trong chuyện Vua Cóc là 1 câu chuyện có tính chất huyền thoại đã được người Sán Dìu lưu truyền từ đời này sang đời khác nhằm chê bai sự dối trá lừa lọc và khuyên con người ta nên ăn ở cho có đức hạnh.
Nội dung của truyện: có một người dân tộc Sán Dìu họ Trương làm tri huyện thụ ở Trân Châu kết hôn vời người có tên là nàng Ba ở cùng huyện. Lấy nhau 10 năm nhưng 2 vợ chồng không có mụn con. Hai vợ chồng đã làm việc thiện suốt 3năm 3 tháng thì người vợ có thai và sinh ra 1 con Cóc, không nỡ giết con bà Hai nuôi cóc cho cóc sống ở góc vườn. Lúc đó thời buổi loạn lạc vua đã treo bảng tìm người dẹp giặc Man Di giữ nền thái bình cho đất nước.
Cóc đã ngậm bảng đem về và xin đi đánh giặc. Vua hứa sẽ gả công chúa cho Cóc. Sau khi dẹp xong giặc Man Di Cóc trở về và xin vua được lấy công chúa. Công chúa thương cha nên đã nhận lời nhưng khi cưới xong trong đêm nàng công chúa thấy một chàng trai khôi ngô đang nằm bên mình, hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy tấm da cóc nàng đã mang đến cho vua cha xem.
Ông vua ngu dốt kia đã mặc vào người và biến thành Cóc, sau đó đã bị đuổi đi và Chàng Cóc trở thành Vua. Giặc Man Di bị dẹp loạn từ đó phải phiêu bạt khắp nơi, một số người sống sót đã tập trung lại và sang Việt Nam. Tộc người Sán Dìu tồn tại tới ngày nay làm ăn sinh sống và trở thành một bộ phận trong cộng đồng Việt Nam. * Quá trình chuyển cư của người Sán Dìu ở Ngọc Thanh Người Sán Dìu di cư từ Quảng Đông- Trung Quốc Sang Việt Nam.
Ban đầu vào Quảng Ninh sau đó chuyển cư đi khắp khu vực trung du miền núi phía bắc, đặc biệt họ sinh sống ở Đông Bắc và tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Hải Dương, Vĩnh Phúc, và một số di cư vào Tây Nguyên. Người Sán Dìu có mặt tại 56 trên tổng số 63 tỉnh thành của cả nước, dân số 146821 người ( 2009). 10 Tộc người Sán Dìu ở Ngọc Thanh do Người Sán Dìu ở Thái Nguyên chuyển cư qua Đèo Nhe tiến dần sang xã Ngọc thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Họ vào xã Ngọc Thanh khoảng 200 – 300 năm, theo gia phả nhà họ Lâm, Lưu, Trương thì cách đây khoảng 6- 8 đời.
Từ đó họ định cư làm ăn sinh sống đến tận bây giờ. Những thập niên trước đổi mới của thế kỷ XX thì họ sống khép kín và ít khi giao tiếp với những người tản cư đến. Họ sinh sống và làm ăn mang tính chất tự cung tự cấp, có những phương thức sản xuất rất riêng phục vụ đời sống. Họ mang những nét văn hóa chung của tộc người Sán Dìu từ văn hóa tinh thần, vật chất, phong tục tập quán cho đến tín ngưỡng tâm linh.
Ban đầu họ di cư tới chỉ khoảng vài chục người sống vùng rừng núi giáp với Thái Nguyên. Ban đầu họ sống du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy trồng các loại thực phẩm nhưng do điều kiện rừng núi khó khăn. Họ di chuyển dần ra ngoài xuống vùng lòng chảo thoai thoải khá bằng phẳng canh tác ruộng nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm. * Dân số và phân bố dân cư Phúc yên là địa bàn cư trú của 2 dân tộc anh em là dân tộc Kinh và Sán Dìu.
Với tổng số dân là 82.730 nhân khẩu người Kinh chiếm hơn 95% số dân, còn lại là dân tộc Sán Dìu chiếm 1 lượng rât nhỏ sống tập trung ở xã Ngọc Thanh. Xã Ngọc Thanh với dân số trên 12054 người ( 2011) khoảng 46% là người dân tộc Sán Dìu, 54% người Kinh. Người Sán Dìu đến sống vùng này trước, họ là một bộ phận của dân tộc Sán Dìu cư trú ở Đại Từ – Thái Nguyên sau đó di chuyển dần sang Ngọc Thanh. Di cư tới Ngọc Thanh khoảng mấy trăm năm.
Họ định cư tại đây và sinh sống quần tụ theo như những ngôi làng của người Kinh. 11 Ngọc Thanh gồm 22 thôn: An Ninh, Miếu Gỗ, Đồng Cao, Thôn Chung, Đồng Đằm, Sơn Đồng, Đồng Dãng, Ngọc Quang, T80, Thanh Cao, Gốc Duối, Lập Đinh, Thọ An, Tân An, Thanh Lộc, An Bình, Đèo Bụt, An Thịnh, Bắc Ái, Cao Quang. Người Kinh sống ở vòng ngoài chủ yếu là người từ nơi khác tới do quá trình tản cư tránh chiến tranh những năm 1954 và xây dựng khu kinh tế mới do Đảng và Nhà Nước phát động từ những năm 1975, 1986. Lúc đầu họ sống ở vòng ngoài ( An Đồng gồm 4 thôn An Ninh, Miếu Gỗ, Thôn Chung, Đồng Cao) sau đó di chuyển vào trong Đèo Bụt và 1 số thôn khác giáp hẳn với vùng Đại Từ – Thái Nguyên ( Ngọc Thanh b).
Hiện nay thì người Kinh và người Sán Dìu sống quần tụ với nhau không có sự tách biệt về làng xóm và họ còn kết hôn với nhau. Dân tộc sán Dìu sống tập trung ở vùng giữa của xã ở 1 số thôn: Đồng Đằm, Sơn Đồng, T80, Đồng Dãng, Lập Đinh, Thanh Cao, Gốc Duối, Ngọc Quang,… còn giữ được nhiều nét văn hóa của tộc người nhất. Đặc điểm địa bàn cư trú 1. Đặc điểm tự nhiên Vĩnh Phúc là một tỉnh khá phát triển, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, hội tụ đủ 3 đặc điểm sinh thái: đồng bằng, trung du, miền núi.
Có điều kiện rất thuận lợi mạng lưới giao thông thuận tiện, tiềm năng rất lớn nên nhận được sự đầu từ các công ty của nước ngoài tạo ra nhiều khu công nghiệp, góp phần phát triển kinh tế của vùng cũng như cả nước, có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn. Vĩnh phúc gồm 7 huyện ( Tam Đảo, Lập thạch, Bình Xuyên, Sông Lô, Tam Dương, Yên Lạc, Vĩnh Tường ) 1 thành phố trực thuộc tỉnh ( Vĩnh Yên ), 1 thị xã ( Phúc Yên ). Vĩnh phúc là địa bàn cư trú của 7 dân tộc anh em :kinh, Sán Dìu, Dao, Nùng, Tày, Sán Chay. Phúc Yên là thị xã duy nhất của tỉnh với vị trí địa lí vô 12 cùng thuận lợi nằm cạnh quốc lộ 2, có đường sắt Hà Nội – Lào Cai, cách sân bay Nội Bái 8km, và cách Hà Nội 30km, khu công nghiệp đầu tư của nước ngoài … Vùng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch vói 525 ha hồ Đại Lải một năm thu hút nhiều lượt khách trong và ngoài nước nghỉ mát, ngoài ra còn có Đầm Láng, Đầm Cà và Sông Cà lồ… Thị Xã Phúc Yên là một trong những vùng phát triển của tỉnh góp phần rât lớn trong tổng GDP.