CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Văn hóa Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa. Trong luận văn này chúng tôi dựa vào những cách hiểu phù hợp với đối tượng nghiên cứu cụ thể. Theo nhà nhân học người Anh, E.
Tylor: “Văn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, là một chỉnh thể phức hợp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác mà con người đạt được với tư cách là thành viên của xã hội” (E. Với định nghĩa trên, Taylor nhấn mạnh: Văn hóa là một phức hợp do con người tạo nên và văn hóa mang tính xã hội. Theo tác giả Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình” (Trần Ngọc Thêm, 2006, tr. Định nghĩa cung cấp cho chúng ta bốn đặc trưng cơ bản làm cơ sở cho phép nhận diện “chất văn hóa” ở đối tượng nghiên cứu.
Các đặc trưng gồm: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Tác giả Phan Ngọc định nghĩa: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” (Phan Ngọc, 2015, tr. 14 Theo Phan Ngọc, nghiên cứu văn hóa là chú ý đến cấp độ quan hệ chứ không phải ở cấp độ hiện tượng.
Ông chú trọng đến “kiểu lựa chọn riêng” của mỗi nền văn hóa. Như vậy, văn hoá là phạm trù được nhiều tác giả, học giả quan tâm. Tuỳ theo quan niệm của từng học giả và tuỳ vào thời đại mà họ đang sống, họ đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn hoá. Điều này chứng minh vai trò to lớn của đối tượng này trong đời sống nói chung và học thuật nói riêng.
Chúng tôi không đưa ra định nghĩa mới về văn hoá mà dùng các định nghĩa trên làm tiền đề để làm rõ vấn đề nghiên cứu cụ thể. Sở dĩ như vậy vì chúng tôi cho rằng những định nghĩa tiêu biểu đã nêu ở trên không mâu thuẫn mà là bổ sung cho nhau. Tuỳ theo vấn đề nghiên cứu mà chúng tôi vận dụng cách hiểu của định nghĩa này hay định nghĩa khác, hoặc sử dụng khía cạnh này hay khía cạnh khác của những định nghĩa. Giá trị và giá trị văn hoá Trong công trình Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập do Ngô Đức Thịnh chủ biên, trình bày quan niệm về giá trị văn hóa như sau: “Giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp” (Ngô Đức Thịnh (cb), 2010, tr.
Và ông nhấn mạnh: Giá trị văn hóa (cultural value) là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định. Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân thiện mĩ), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất Người. Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa. Chính vì vậy mà văn hóa thông qua quan hệ giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triển xã hội (Ngô Đức Thịnh (cb), 2010, tr.
Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Giá trị là tính chất của khách thể, được chủ thể đánh giá là tích cực xét trong so sánh với các khách thể khác cùng loại trong một bối 15 cảnh không gian - thời gian cụ thể (Trần Ngọc Thêm, 2016, tr. Ông nhấn mạnh: “Khi hiểu văn hóa là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra thì giá trị văn hóa cũng bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, “Giá trị tinh thần là loại giá trị quan trọng nhất, chi phối các loại giá trị khác. Phẩm chất tinh thần là phẩm chất quan trọng nhất, là hạt nhân cốt lõi của khái niệm “giá trị” (Trần Ngọc Thêm, 2013a, tr.
Sự liên kết giữa các giá trị văn hoá kiến tạo hệ giá trị văn hoá “hệ giá trị văn hóa của một dân tộc bao gồm toàn bộ những giá trị mà chủ thể của nền văn hóa (dân tộc) đó đã tích lũy được, bao gồm rất nhiều thành tố, cả vật chất lẫn tinh thần” (Trần Ngọc Thêm, 2016, tr. Quan niệm của Trần Ngọc Thêm tập trung vào giá trị văn hoá của dân tộc, do vậy định hướng được cho người viết về những giá trị của tạp chí Tri Tân trong quá trình làm luận văn. Những quan niệm trên là cơ sở giúp chúng tôi tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ góc độ giá trị văn hoá. Từ đó luận văn trả lời các câu hỏi: Tri Tân lựa chọn bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống vật chất và tinh thần nào? Ý thức của Tri Tân trong việc định hướng xây dựng giá trị văn hóa mới trong tiến trình hiện đại hoá văn hoá dân tộc ra sao? Những giá trị mà tạp chí Tri Tân đã mang lại đối với việc nghiên cứu báo chí, văn hoá, văn học, lịch sử… 1.
Bản sắc văn hóa Có khá nhiều định nghĩa về bản sắc văn hoá. Ở đây chúng tôi cũng chỉ đề cập đến một số định nghĩa có liên quan trực tiếp đến nội dung luận văn. Dunise Dusen cho rằng: “Bản sắc có thể được xác định bởi tầng lớp, giới tính, chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ, hoặc là sự liên kết của toàn bộ những nhân tố khác nhau. Trong thời hiện đại, thường nó được xác định bởi chủ nghĩa dân tộc.
Ở Châu Âu, bản sắc có nguồn gốc từ những gắn kết về tộc người, dựa trên sự chia sẻ ngôn ngữ chung, lịch sử chung và huyền thoại chung” (được trích dẫn bởi Đoàn Nguyễn Thuỳ Trang, 2016, tr.10) 16 Nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn cho rằng: “Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị văn hóa mà mỗi dân tộc chấp nhận” (Hà Văn Tấn (cb), 1996, tr. Ngoài ra, bản sắc văn hóa dân tộc là những nét văn hóa tiêu biểu thể hiện chính nền văn hoá đó trong so sánh với nền văn hoá khác, vì thế Trần Đình Hượu nhận định: Đặc sắc dân tộc của văn hoá là cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc đáo, phân biệt với dân tộc khác” (được trích dẫn bởi Ngô Thị Thanh, 2009, tr. “Tóm lại, bản sắc là sự giống nhau và điểm khác biệt, về những cái mang tính cá nhân và những cái mang tính xã hội, “về việc bạn có gì chung với một số người và điều gì khiến bạn khác với những người khác” (Weeks, 1990, 89). Như vậy qua các định nghĩa nêu trên có thể thấy hai quan điểm: bản sắc là đặc trưng (đặc điểm) và bản sắc là căn tính (cội nguồn, ý thức về nguồn cội).
Nội dung của tạp chí Tri Tân thể hiện đầy đủ và rõ nét cả hai quan điểm này. Các bài viết trên tạp chí Tri Tân tập trung khảo cứu, đánh giá, nhìn nhận một số đặc điểm của nền văn hoá truyền thống Việt Nam, thể hiện rõ bản sắc, tính chất của dân tộc Việt Nam. Mặt khác Tri Tân cũng có những bài viết đề cập đến việc xây dựng một nền văn hoá mới trong một xã hội mới với những con người phù hợp với tinh thần của thời đại. Khi tạp chí Tri Tân ra đời, những thành viên tham gia viết bài có lẽ chưa có được những kiến thức mang tính chất lý luận, định hướng về bản sắc văn hoá.
Nhưng ở vai trò là những trí thức cựu học và tân học nhãn quan và tư duy khoa học khi viết bài cho tạp chí Tri Tân đã được họ thể hiện đầy đủ. Văn hóa truyền thống và truyền thống văn hóa Theo Nguyễn Văn Hiệu, văn hóa truyền thống “là khái niệm dùng để chỉ những thời kì, những giai đoạn văn hóa trong quá khứ, có tính tĩnh tại” (Nguyễn Văn Hiệu, 2008). Theo Trần Ngọc Thêm, truyền thống văn hoá “là cơ chế tích luỹ và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng đồng (Trần Ngọc Thêm, 2016, tr.Aileau, thì truyền thống (văn hoá) là “sự tái-sáng tạo các giá trị 17 của một cộng đồng” (R.Alileau, Đoàn Văn Chúc (dịch), 2020). Trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999), nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên quan niệm rằng văn hóa truyền thống được xác định từ thế kỉ X cho đến năm 1858 và giai đoạn tiếp theo chính là văn hóa hiện đại.
Trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999), tác giả Trần Ngọc Thêm, chia văn hóa Việt Nam ra làm ba lớp: Lớp văn hóa bản địa (văn hóa tiền sử và văn hóa Văn Lang – Âu Lạc); Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực (giai đoạn văn hóa chống Bắc thuộc và giai đoạn văn hóa Đại Việt); Lớp văn hóa giao lưu với văn hóa phương Tây (giai đoạn văn hóa Đại Nam và Giai đoạn văn hóa hiện đại). Trong công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam (2006) do Trần Quốc Vượng chủ biên chia văn hóa Việt Nam thành năm thời kì, giai đoạn: Văn hóa Việt Nam thời tiền sử và sơ sử; Văn hóa Việt Nam thiên niên kỉ đầu công nguyên; Văn hóa Việt Nam thời tự chủ (từ thế kỉ X đến 1858); Văn hóa Việt Nam từ năm 1858 đến 1945; Văn hoá Việt Nam từ 1945 đến nay. Nhóm tác giả này nhận định giai đoạn từ 1858 đến 1945 là giai đoạn chứa đựng nhiều biến động căn bản về các phương diện lịch sử, xã hội. Văn hóa Việt Nam vì thế, có những đặc điểm khác biệt so với giai đoạn trước.
Từ những quan điểm trên có thể thấy rằng văn hoá truyền thống Việt Nam tồn tại và phát triển đến mốc thời gian là 1858. Đó là thời điểm người Pháp bắt đầu tiến hành xâm lược Việt Nam và văn hoá phương Tây, cụ thể là văn hoá Pháp bắt đầu ảnh hưởng đến một cách sâu rộng.