Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo luôn giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tại thành phố Hà Nội, huyện Ba Vì có diện tích tự nhiên 424 km2 với 31 xã, thị trấn; trong đó diện tích đất đồi núi lên tới 18.478 ha, chiếm 58,9% toàn địa bàn. Mặc dù năm 2012 tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 13,9% với tổng giá trị sản xuất đạt 13.989 tỷ đồng và thu nhập bình quân đầu người đạt 24,7 triệu đồng/năm, khu vực 7 xã miền núi vẫn tồn tại khoảng cách phát triển khá lớn so với vùng đồng bằng. Tình trạng thiếu việc làm mang tính mùa vụ cùng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm chạp khiến tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại các xã miền núi duy trì ở mức cao. Vấn đề nghiên cứu then chốt được đặt ra là làm thế nào để xây dựng một hệ thống việc làm bền vững, phù hợp với đặc thù địa hình và tập quán của đồng bào dân tộc, qua đó giúp người dân thoát nghèo ngay trên chính quê hương mình. Mục tiêu của đề tài là phân tích thực trạng lao động, việc làm và nghèo đói giai đoạn 2011 - 2013, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tạo việc làm gắn với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Không gian nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào 3 xã đại diện gồm Ba Trại, Ba Vì và Khánh Thượng. Về mặt định lượng, nghiên cứu hướng tới việc tạo cơ sở khoa học để hạ tỷ lệ hộ nghèo vùng miền núi từ mức trên 15% xuống dưới 5%, đồng thời gia tăng thu nhập cho người lao động nông thôn lên gấp 1,5 đến 2 lần trong trung hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế kết hợp với khung pháp lý tại Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2012, khẳng định việc làm là mọi hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật nghiêm cấm. Đồng thời, đề tài áp dụng lý thuyết tiếp cận nghèo đa chiều của Amartya Sen và Ngân hàng Thế giới, xác định nghèo đói không chỉ là sự thiếu hụt thu nhập đơn thuần theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg (với chuẩn nghèo nông thôn là 401.000 đồng/người/tháng), mà còn là sự thiếu hụt cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, nguồn vốn và thị trường lao động. Khung phân tích làm rõ 5 khái niệm cốt lõi: việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý, thất nghiệp cơ cấu, nghèo tương đối và thoát nghèo bền vững. Mối quan hệ biện chứng giữa tạo việc làm và giảm nghèo được mô hình hóa qua tác động kép: tạo việc làm giúp gia tăng tích lũy tài sản cho hộ gia đình, đồng thời giảm chi phí an sinh xã hội của ngân sách nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa tại 3 trên 7 xã miền núi của huyện Ba Vì gồm xã Ba Trại (đặc trưng kinh tế trồng chè và chăn nuôi), xã Ba Vì (đặc trưng đồng bào người Dao với nghề thuốc Nam truyền thống) và xã Khánh Thượng (địa bàn vùng cao thuần nông). Cỡ mẫu khảo sát được thực hiện qua các bảng hỏi trực tiếp tại hộ gia đình kết hợp phỏng vấn sâu 45 cán bộ chuyên trách cấp xã, trưởng thôn và đại diện hộ nghèo. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 2011 - 2013 của Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Phòng Thống kê huyện. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và so sánh đối chiếu được lựa chọn nhằm bóc tách các yếu tố cấu thành chất lượng lao động, làm rõ nguyên nhân nghèo đói do thiếu việc làm và đánh giá mức độ hấp thụ vốn tín dụng chính sách tại từng tiểu vùng sinh thái.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu việc làm tại các xã miền núi Ba Vì mất cân đối nghiêm trọng khi tỷ lệ lao động trong khu vực nông - lâm nghiệp chiếm tới hơn 72%, trong khi khu vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm lần lượt khoảng 11% và 17%.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực khu vực nghiên cứu ở mức thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2013 chỉ đạt từ 18,5% đến 22%, dẫn đến tình trạng hơn 65% lao động trong độ tuổi rơi vào cảnh thiếu việc làm mùa vụ, thời gian sử dụng lao động trong năm chỉ đạt từ 68% đến 73% mức chuẩn quy định.

Thứ ba, các mô hình kinh tế đặc sản nông nghiệp bước đầu ghi nhận hiệu quả với sản lượng chè búp khô toàn huyện đạt 15.510 tấn/năm và sản lượng sữa tươi đạt xấp xỉ 19.000 tấn/năm, tuy nhiên liên kết chuỗi giá trị chưa bền vững khiến giá trị gia tăng giữ lại cho hộ sản xuất chỉ đạt từ 28% đến 32% doanh thu.

Thứ tư, nguồn vốn tín dụng chính sách đã hỗ trợ cho hơn 1.200 lượt hộ nghèo vay vốn trong giai đoạn 2011 - 2012, song tỷ lệ tái nghèo và phát sinh nghèo mới hàng năm vẫn dao động từ 1,2% đến 1,8% do người dân thiếu kiến thức quản trị dòng tiền và kỹ năng sản xuất hàng hóa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng nghèo đói tại 3 xã khảo sát bắt nguồn từ điều kiện địa hình chia cắt, diện tích đất canh tác bình quân chỉ đạt từ 450 m2 đến 600 m2/người và tâm lý sản xuất tự cấp tự túc. So sánh với các nghiên cứu tương tự tại miền núi tỉnh Phú Thọ và Thanh Hóa trong cùng giai đoạn, Ba Vì sở hữu lợi thế vượt trội nhờ hạ tầng giao thông kết nối trực tiếp với trung tâm Hà Nội qua các tuyến tỉnh lộ 414, 415. Khi dữ liệu điều tra thu nhập được mô tả qua biểu đồ so sánh cơ cấu kinh tế, bức tranh thực tế cho thấy các hộ tham gia làm nghề truyền thống hoặc kinh doanh dịch vụ du lịch đạt mức thu nhập cao hơn 2,3 lần so với các hộ thuần nông. Điều này chứng minh rằng việc chuyển dịch lao động từ nông nghiệp truyền thống sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ là con đường ngắn nhất để thoát nghèo bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, phát triển vùng chuyên canh nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến. Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần tập trung mở rộng vùng chè an toàn Ba Trại đạt sản lượng trên 16.000 tấn/năm và nâng tổng sản lượng sữa tươi vượt mức 20.000 tấn/năm, mục tiêu tạo việc làm ổn định cho khoảng 3.500 lao động nông thôn trước năm 2016.

Thứ hai, chuẩn hóa và mở rộng chuỗi liên kết 12 làng nghề truyền thống, trọng tâm là hỗ trợ pháp lý và công nghệ chế biến cho làng nghề thuốc Nam dân tộc Dao tại xã Ba Vì. Giải pháp này giúp gia tăng giá trị sản phẩm thêm 35% đến 40%, thu hút hơn 1.500 lao động nhàn rỗi tham gia vào các hợp tác xã chế biến thảo dược.

Thứ ba, đầu tư hạ tầng du lịch sinh thái và văn hóa cộng đồng gắn với 15 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, khai thác tối đa các quần thể thắng cảnh như Ao Vua, Khoang Xanh và Vườn Quốc gia Ba Vì. Mục tiêu đặt ra là thu hút trên 2,5 triệu lượt khách/năm, tạo ra thêm 2.000 việc làm mới trong các lĩnh vực lưu trú, ẩm thực, vận chuyển và hướng dẫn viên bản địa.

Thứ tư, đổi mới mô hình đào tạo nghề nông thôn gắn với tín dụng chính sách và xuất khẩu lao động. Trung tâm Dạy nghề phối hợp cùng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện tổ chức tối thiểu 30 lớp bồi dưỡng kỹ thuật/năm, đồng thời hỗ trợ 100% hộ nghèo tham gia các chương trình vay vốn từ 30 đến 50 triệu đồng/hộ để chủ động khởi tạo việc làm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội tại các địa phương bán sơn địa cần tài liệu tham khảo để xây dựng chính sách giảm nghèo giai đoạn trung hạn.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Khoa học Quản lý, Quản lý công, Kinh tế phát triển cần nguồn dữ liệu thực chứng về chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ phát triển đang xây dựng dự án sinh kế vi mô, nâng cao năng lực cho phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi phía Bắc.

Thứ tư, ban quản trị các hợp tác xã nông nghiệp, doanh nghiệp lữ hành và cơ sở sản xuất làng nghề tại Ba Vì tìm kiếm mô hình liên kết chuỗi giá trị nhằm mở rộng quy mô sản xuất và tuyển dụng lao động địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Tạo việc làm đóng vai trò quyết định như thế nào đối với công tác giảm nghèo tại Ba Vì? Tạo việc làm giúp nâng cao mức thu nhập bình quân từ 24,7 triệu đồng/người/năm lên mức cao hơn, đồng thời giải phóng từ 25% đến 30% thời gian nhàn rỗi của lao động nông thôn. Việc có việc làm thường xuyên giúp người nghèo chủ động tích lũy tài chính, giảm phụ thuộc vào trợ cấp xã hội và phòng ngừa rủi ro tái nghèo khi gặp biến cố dịch bệnh, thiên tai.

Vì sao nghiên cứu lại chọn 3 xã Ba Trại, Ba Vì và Khánh Thượng để khảo sát chuyên sâu? Ba xã trên đại diện cho ba hình thái kinh tế sinh thái điển hình của miền núi Ba Vì: Ba Trại thế mạnh về trồng chè và chăn nuôi bò sữa, Ba Vì nổi bật với nghề thuốc Nam của người Dao, còn Khánh Thượng đại diện cho vùng cao thuần nông. Việc khảo sát 3 địa bàn này cung cấp dữ liệu thực chứng toàn diện cho 7 xã miền núi.

Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn nghiên cứu được quy định như thế nào? Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chuẩn nghèo khu vực nông thôn giai đoạn 2011 - 2015 là những hộ có thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng trở xuống; hộ cận nghèo có mức thu nhập từ 402.000 đến 500.000 đồng/người/tháng. Đây là căn cứ pháp lý cốt lõi để tác giả phân loại và đánh giá tỷ lệ nghèo đói.

Các làng nghề truyền thống đóng góp gì vào việc giải quyết việc làm tại chỗ? Với 12 làng nghề đang hoạt động, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp của huyện đạt mức tăng trưởng 34% vào năm 2012. Làng nghề giúp tận dụng nguyên liệu địa phương, tạo việc làm linh hoạt cho phụ nữ và người cao tuổi với mức thu nhập ổn định từ 2,5 đến 4 triệu đồng/người/tháng mà không cần ly hương.

Rào cản lớn nhất trong công tác đào tạo nghề cho lao động miền núi Ba Vì là gì? Rào cản lớn nhất là tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm gần 80%, đi kèm tâm lý e ngại thay đổi và thói quen canh tác tự phát. Ngoài ra, việc đào tạo nghề trước đây chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của doanh nghiệp khiến tỷ lệ học viên tìm được việc làm đúng nghề sau đào tạo chỉ đạt từ 45% đến 50%.

Kết luận

  • Nghiên cứu khẳng định tạo việc làm là giải pháp căn cơ, mang tính quyết định để hiện thực hóa mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững tại 7 xã miền núi huyện Ba Vì.
  • Đề tài hệ thống hóa thành công khung lý luận quản lý về mối quan hệ giữa tạo việc làm, phát triển sinh kế và tiếp cận nghèo đa chiều trong bối cảnh nông thôn đổi mới.
  • Nguồn số liệu thực chứng tại 3 xã Ba Trại, Ba Vì và Khánh Thượng giai đoạn 2011 - 2013 phản ánh rõ các điểm nghẽn về chất lượng nhân lực và chuyển dịch cơ cấu nghề.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về phát triển nông nghiệp đặc sản, khôi phục 12 làng nghề, mở rộng du lịch và hỗ trợ tín dụng ưu đãi cung cấp lộ trình thực thi khả thi đến năm 2020.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cần nhanh chóng tích hợp các khuyến nghị của luận văn vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao thu nhập toàn diện cho người dân.