phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, có kết cau bao gồm 3 phân: Phần 1: Cơ sở lý luận về tạo việc làm cho lao động thanh niên Phần 2: Thực trạng tạo việc làm cho lao động thanh niên trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Phần 3: Định hướng và giải pháp tạo việc làm cho lao động thanh niên trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Phan 1 CO SO LY LUAN VE TAO VIEC LAM CHO LAO DONG THANH NIEN 1. Khái quát về việc làm cho lao động thanh niên 1. Một số khái niệm 1. Khai niém viéc lam Dưới góc độ Kinh tế-xã hội, Trần Việt Tiến (2018) đã đưa ra quan điểm: “V/ệc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu câu của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định.
Họ có thể tham gia công việc nào đó dé được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình. ” Dưới góc độ pháp lý, tại điều 9, Bộ luật lao động năm 2019 đã nêu khái niệm: "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm. Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia tạo việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đêu có cơ hội có việc làm. ” Từ đó có thể thấy rõ dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu to: — Là hoạt động lao động: thê hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ.
Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thông, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ồn định. — Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khản năng tạo ra thu nhập. — Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm.
Tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc lam. Day là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm. Có thể hiểu việc làm day du 1a su thoa man nhu cau vé viéc lam cho bat ky al có khả năng lao động trong nên kinh tế quốc dân. Việc làm day đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yêu là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suât và thu nhập.
Một việc làm đây đủ đòi hỏi người lao động làm việc theo chế độ (độ dài thời gian lao động ở Việt Nam hiện nay là § giờ/ngày). Việc làm có hiệu quả là việc làm với năng suất, chất lượng cao. Đối với tầm vĩ mô việc làm có hiệu quả còn là vấn đề sử dụng hợp lý nguồn lao động, tức là tiết kiệm được chi phí lao động, tăng năng suất lao động, bảo đảm chất lượng của các sản phẩm làm ra và tạo ra nhiều chỗ làm việc để sử dụng hết nguồn nhân lực. Do đó, có thể hiểu: V7ệc làm là một hoạt động được thường xuyên thực hiện trong một thời gian nhất định và dựa trên sức lao động đề đổi lấy thụ nhập từ việc thanh toán (hoặc tiên công).
Các hoạt đông này nằm trong khuôn khổ của pháp luật và dựa trên sự tự nguyện của cá nhận người lao động. Khai niệm lao động thanh niên Theo Võ Hồng Phúc (2019): “Lực lượng lao động (labour ƒorce) là nhóm người trong một quốc gia hoặc khu vực mà có khả năng lao động và đang tham gia hoặc sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh tế, bao gom viéc lam va tim kiém viéc lam. Luc lượng lao động bao gom cả những người đang làm việc và những người thất nghiệp nhưng đang tìm kiếm việc làm. ” Liên hợp quốc (2008) định nghĩa: Thanh niên là nhóm người từ l5 đến 24 tuổi chủ yếu dựa trên cơ sở phán biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác.
Nhưng cũng Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới l8 tuổi. Ở Việt Nam, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuôi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà chúng ta cho thanh niên là những người trong độ tuôi từ 16 đến 30. Điều 1 Luật Thanh niên 2020 có quy định về độ tuổi thanh niên như sau: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Thanh niên không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp đều được tôn trọng và bình đăng về quyên và nghĩa vụ.” Theo đó có thê rút ra khái niệm: Lao động thanh niên là những người tham gia lao động và sản xuất có độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi.
Đây là độ tuổi đang trong quá trình trưởng thành của con người, là những người có sức trẻ, sức khỏe, đây năng động, sáng tạo và nhiệt huyết. Việc học tập, trau dồi, rèn luyện cũng như nhu cầu khang định bản thân cao. Đóng góp chung vào nên kinh tế và sự nghiệp phát triển đất nước. Khai niệm việc làm cho lao động thanh niên Từ khái niệm việc làm và khái niệm việc làm và khái niệm thanh niên đã phân tích ở trên, có thể rút khái niệm việc làm cho lao động thanh niên như sau: Việc làm cho lao động thanh niên là hoạt động lao động tạo ra thu nhập của người lao động độ tuổi từ 16-30 mà pháp luật không cắm.
Các hoạt động lao động đó phải phù hợp với độ tuổi, với trách nhiệm và nghĩa vụ của thanh niên trong xung kích, sáng tao, di đâu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa va trong su nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc điểm của lao động thanh niên và vai trò của việc làm cho lao động thanh niên 1. Đặc điểm của lao động thanh niên Lao động thanh niên có những đặc điểm riêng biệt về cả mặt mạnh và mặt hạn chế, cụ thể như sau: a) Những điểm mạnh của LĐTN: LĐTN là những lao động trẻ, có thé luc, dap tng duoc nhu cau str dung cua cac doanh nghiép về bộ phận nhân lực trẻ khỏe, nhiều đổi mới thậm chí trong các công việc dùng sức là chính. Đối với lao động qua đào tạo: Đối với những công việc đòi hỏi kỹ năng và kinh nghiệm thường thì những người lao động đứng tuổi chiếm ưu thế.
Tuy nhiên, đối với những công việc đòi hỏi không chỉ kiến thức, khả năng thích ứng, linh hoạt mà còn các tố chất thuộc về sức trẻ thì LĐTN tốt nghiệp đại học, cao đăng và dạy nghề lại chiếm ưu thế. Đối với lao động phố thông: Trong cơ cấu sử dụng nhân lực của các doanh nghiệp, không phải tất cả các bộ phận đều cần dùng nhân lực qua đào tạo mà vẫn cần một bộ phận nhân lực làm các công việc đơn giản, yêu cầu có sức khỏe là chính. Nhu cầu về lao động loại này tuy không nhiều, nhưng rõ ràng LĐTN có ưu thế hơn lao động trung niên và cao tudi. Kha năng cạnh tranh một vị trí làm việc của LĐTN, do vậy là cao hơn so với các nhóm lao động khác.
b) Những hạn chế của LĐTN: - Đối với LĐTN phố thông, hạn chế lớn nhất là không qua đào tạo nên việc hội nhập vào thị trường lao động không dễ dàng. - Đối với LĐTN qua đào tạo, hạn chế lớn nhất là cơ cấu lao động tốt nghiệp đại học, cao đắng và trường nghề quá mất cân đối. Cơ câu cung lao động mất cân đối thể hiện trước hết ở quan hệ giữa lao động có trình độ đại học với lao động có trình độ cao đăng và công nhân kỹ thuật. Quan hệ này thường được nhắc tới như “thừa thay - thiéu tho”.
- Đối với LĐTN, họ còn có hạn chế nữa là tác phong lao động công nghiệp, ý thức kỷ luật lao động còn yếu. Lao động phổ thông phần lớn xuất thân từ nông thôn, nên ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, ngỡ ngàng với những quy định, thủ tục giao kết hợp đồng lao động, chấp hành nội quy lao động, v. nên không dễ cho lao động phô thông tìm việc. Lối sống hợp tác trong công việc với đồng nghiệp, tuân thủ sự chỉ đạo của cán bộ quản lý còn yếu, không tuân thủ theo yêu cầu của công việc.
- LĐTN nói chung có các mối quan hệ xã hội, nhất là mạng lưới tuyển dụng rất hạn chế. Đây cũng là điểm yếu của họ khi tìm việc. Nhiều nghiên cứu về thị trường lao động đã cho thấy việc tuyển dụng lao động hiện nay chủ yếu thông qua các mối quan hệ xã hội - tồn tại một mạng lưới xã hội trong tuyên dụng lao động. - Tâm lý kén việc của người LĐTN: Người lao động phô thông là thanh niên, mặc dù không có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhưng về mặt tâm lý, hầu hết muốn làm việc tại các đô thị lớn; rất ít người muốn làm việc ở khu vực nông thôn.
Vai tro cua việc làm cho lao động thanh niên - Vê mặt kinh tế: Thứ nhất, đối với cá nhân thanh niên và gia đình: Người lao động nói chung và các LĐTN nói riêng có việc làm, có thu nhập phù hợp để trang trải trong cuộc sống hàng ngày và chăm sóc gia đình thì họ sẽ yên tâm làm việc, chú trọng vào công việc dé công việc đạt hiệu quả cao nhất, nhằm nâng cao trình độ tay nghề tạo ra nhiều sản phâm chất lượng ngày càng cao và gia tăng thu nhập cho bản thân và gia đình. Thứ hai, đối với nên kinh tế quốc dân: Tạo việc làm tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Khi thanh niên được tạo việc làm sẽ mang lại thu nhập cho bản thân họ có thể tích lũy. - Về mặt xã hội: Việc làm là một vẫn đề mang tính xã hội.