chương 1 và chương 3 của Luận án. Sách “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” của Lô Quốc Toản (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) đưa ra định nghĩa khái niệm Nguồn cán bộ DTTS “là những người có nguồn gốc xuất thân từ các DTTS, được tuyển chọn, được đào tạo, bồi dưỡng, được rèn luyện, thử thách để bố trí, sắp xếp vào các cương vị công tác trong bộ 14 máy của hệ thống chính trị”. Tác giả phân biệt tiêu chuẩn nguồn cán bộ nói chung so với nguồn cán bộ DTTS chỉ khác ở chỗ thành phần dân tộc xuất thân (DTTS không phải là dân tộc Kinh), còn các tiêu chuẩn khác thì giống nhau. Điều này theo chúng tôi là chưa phù hợp, bởi trong thực tế điều kiện phát triển của đồng bào DTTS vùng miền núi chưa cho phép.
Khi quan niệm Phát triển nguồn cán bộ DTTS là “phát triển những con người ở các DTTS, tạo điều kiện thuận lợi để họ trở thành cán bộ” và “phát triển về năng lực và trình độ công tác của đội ngũ cán bộ DTTS”, là tác giả đã phân biệt 2 nhóm nguồn khác nhau: người DTTS chưa là cán bộ và cán bộ người DTTS. Điều này đồng nhất với nhiều tác giả trong quan niệm về nguồn cán bộ, và cho thấy phát triển nguồn nằm trong nội hàm khái niệm tạo nguồn, nhưng chỉ là một khâu của tạo nguồn. Ở mục đánh giá về công tác phát triển nguồn, tác giả đề cập đến 3 việc cụ thể: khôi phục và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú; thực hiện chế độ cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp; đào tạo cán bộ nguồn quy hoạch lãnh đạo, quản lý càng thể hiện rõ quan niệm phát triển nguồn theo tác giả thực chất chỉ là nội dung đào tạo, bồi dưỡng nguồn. Tuy vậy, xét trên khía cạnh này, thì đây là những gợi ý quan trọng để Luận án tiếp tục triển khai nội dung đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng trong tạo nguồn CB, CC xã người DTTS.
Những nghiên cứu liên quan đến Tây Nguyên, các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và tạo nguồn cán bộ ở Tây Nguyên Tây Nguyên và các DTTS ở Tây Nguyên từ trước đến nay luôn hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong nghiên cứu, khám phá những giá trị về văn hóa, những đặc trưng về xã hội, những biến động về kinh tế, chính trị. Nhất là từ sau những biến động chính trị do các thế lực thù địch kích động đồng bào DTTS tại chỗ chống phá chính quyền, phá hoại khối đoàn kết các dân tộc năm 2001 và 2004, hàng loạt công trình khoa học được triển khai: sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên” (2005) và sách “Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên” (2008) của PGS, TS Trương Minh Dục (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); sách “Văn 15 hóa xã hội và con người Tây Nguyên” (2005) của GS Nguyễn Tấn Đắc (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội); sách “Kinh tế - xã hội các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên những năm đầu thế kỷ XXI - Thực trạng và xu hướng phát triển” (2007) của PGS,TS Phạm Hảo chủ biên (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội); sách “Một số vấn đề về văn hóa - xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay” (2010) của Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội) v. Điểm chung của các công trình là phản ánh được điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tây Nguyên, sự tác động của các yếu tố dân tộc, tôn giáo, sự chống phá của các thế lực thù địch. cùng những giải pháp có tính đồng bộ về tận dụng lợi thế, tiềm năng, về xây dựng HTCT cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS, về phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc để tiếp tục xây dựng Tây Nguyên ngày càng ổn định và phát triển.
Cùng với các công trình trên, tác giả Bùi Minh Đạo (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội) trong sách “Tổ chức và hoạt động buôn làng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên” (2010) đề cập đến nhiều đặc trưng văn hóa, xã hội, con người Tây Nguyên hình thành từ những tác động của điều kiện tự nhiên - xã hội. Trong đó, có một yếu tố quan trọng được nhiều tác giả lưu ý, đó là hình thái tổ chức xã hội cổ truyền “làng” (plei, plơi, buôn, bon) - đơn vị tự quản, cư trú độc lập và duy nhất, có chung quy tắc ứng xử lệ tục. Mỗi làng là một thể chế kinh tế, văn hóa, xã hội và một không gian sinh tồn tự nhiên khép kín. Đồng bào DTTS sống trong làng, chịu sự quy định của lệ tục làng, và nhân cách con người cũng từ đó mà được hình thành.
Tuy nhiên hiện nay, làng của các DTTS Tây Nguyên không còn là thực thể đơn nhất, mà bao trùm lên nó là hệ thống thể chế chính trị của Nhà nước. Vì vậy buôn làng trở thành “cánh tay nối dài” của chính quyền xã đến các hộ gia đình. Đặc trưng xã hội này là điểm cần chú ý để Luận án xác định những yếu tố tác động (cả tích cực lẫn tiêu cực) đối với mỗi con người thuộc cộng đồng các DTTS Tây Nguyên. Tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở Tây Nguyên vừa là đối tượng, vừa là mục tiêu của nhiều công trình nghiên cứu.
16 Luận án tiến sĩ "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ các cấp ở Tây Nguyên hiện nay" (2000) của Nguyễn Mậu Dựng đề cập đến vai trò của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trong đó có cán bộ DTTS ở Tây Nguyên là việc làm thường xuyên và cấp bách, quyết định sự ổn định và phát triển của HTCT nơi đây. Bài viết “Đặc điểm tâm lý, văn hóa các dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên ảnh hưởng tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay” của TS Nguyễn Hồng Sơn (trong Sách “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp” (2005) của TS Lê Thị Phương Thảo, PGS,TS Nguyễn Cúc, TS Doãn Hùng đồng chủ biên) cho rằng đặc điểm tâm lý - văn hóa của người DTTS Tây Nguyên là sự đan xen giữa yếu tố tích cực lẫn tiêu cực, tiến bộ lẫn lạc hậu: giữa thụ động và phóng khoáng; giữa tư duy trực quan và ý tưởng thẩm mỹ bay bổng; chịu thương chịu khó nhưng ít thích làm giàu; tôn vinh trưởng thôn, già làng hơn thích làm quan; thích tự quản hơn lãnh đạo; thích cái cộng đồng hơn cái tôi tự do; thích nghệ thuật hơn làm kinh tế. Bên cạnh cái bao dung, thật thà, dũng cảm, cần mẫn, biết sống chấp nhận quá khứ, trọng người già, phụ nữ, trọng đức, giản dị. thì trong quá trình biến đổi tâm lý - văn hóa, trong một bộ phận cán bộ và nhân dân đã xuất hiện tính tự ti dân tộc, tính “tự trị”, “bài Kinh”, nhẹ dạ cả tin, dễ bị lôi kéo, kích động thù hằn.
Đây là những tổng kết mang tính thực tế, thực tiễn sâu sắc, cần thiết cho Luận án khi bàn về đặc điểm nguồn CB, CC người DTTS và những vấn đề đặt ra trong quá trình lựa chọn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng giáo dục nguồn CB, CC người DTTS ở Tây Nguyên. Thực trạng và giải pháp tạo nguồn cán bộ cấp xã người DTTS ở Tây Nguyên được nhiều tác giả bài báo khoa học, nhiều tham luận tại các Hội thảo của khu vực quan tâm. Đối với cán bộ cấp xã người DTTS ở Tây Nguyên nói chung có các công trình tiêu biểu: Hội thảo “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số ở Tây nguyên” do Đại học Đà Nẵng tổ chức năm 2009 tập hợp được khá nhiều thông tin về thực trạng nguồn nhân lực DTTS, những tìm tòi, nỗ lực trong công tác giáo 17 dục nâng cao trình độ, năng lực cho người lao động DTTS, cùng những đề xuất trên nhiều khía cạnh để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao người DTTS ở Tây Nguyên. Tiêu biểu có các tham luận: “Một số vấn đề về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên” của Nguyễn Bạn; "Đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho người dân tộc thiểu số" của Blong Tiến; “Cách thức đào tạo đại học cho người dân tộc thông qua hình thức hệ cử tuyển" của TS Đoàn Gia Dũng; “Cần đổi mới phương pháp giảng dạy đối với sinh viên các dân tộc thiểu số” của Thái Thị Bích Vân.
Trong bài viết “Thực trạng và giải pháp để xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên” (Tạp chí Dân tộc, số 3-2009), TS Nguyễn Thị Tâm đề xuất giải pháp chủ động tạo nguồn cán bộ để phục vụ cả trước mắt và lâu dài, trong đó nhấn mạnh: Quy hoạch cán bộ cần chú ý cơ cấu nhưng phải đảm bảo tiêu chuẩn và “mở” để có thể thay đổi theo tình hình cụ thể. Chú trọng chất lượng phát triển đảng viên, giáo dục và thử thách quần chúng qua phong trào thực tiễn, qua quan hệ với dân; chú ý phát hiện và loại bỏ phần tử cơ hội. Trong đào tạo, nghiên cứu mô hình trường nội trú dân tộc cấp I cụm xã; đánh giá lại hiệu quả của chế độ cử tuyển đại học. Thành lập trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số trong Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các Học viện khu vực.
Giải quyết những bất cập giữa đào tạo và sử dụng, quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ. Bài viết: “Một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên” của Nguyễn Văn Quý, Bộ Nội Vụ (Webside của Sở Nội vụ Đắk Lắk, 7-3-2011) cho thấy từ khi có Quyết định số 253/QĐ-TTg ngày 5-3-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên" giai đoạn 2002-2010, HTCT cơ sở ở Tây Nguyên được củng cố, tăng cường về nhiều mặt; năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ được nâng lên.