Tổng quan luận án
Công tác cán bộ được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Căn cứ theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, việc bầu cử đối với chức danh cán bộ và tuyển dụng đối với chức danh công chức là khâu chốt cuối cùng để hình thành đội ngũ trong hệ thống chính trị cấp xã. Tuy nhiên, việc đội ngũ cán bộ, công chức (CB, CC) cấp xã có đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm chất lượng và duy trì sự chuyển tiếp liên tục giữa các thế hệ hay không lại phụ thuộc vào yếu tố có tính quyết định: chất lượng nguồn do công tác tạo nguồn trước đó mang lại. Khi công tác phát hiện, thu hút, quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng chuẩn hóa nguồn được thực hiện chủ động, cấp ủy sẽ có đủ số dư nhân sự để lựa chọn, tránh được tình trạng hẫng hụt cán bộ.
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược trọng yếu về kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh của cả nước, có diện tích tự nhiên 54.639 km² và dân số trên 5,2 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 37,84% với 47 dân tộc cùng sinh sống. Đội ngũ CB, CC cấp cơ sở toàn vùng có trên 23.500 người, trong đó người DTTS chiếm 26,8%. Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực kể từ khi thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước năm 1997 và Quyết định số 253/QĐ-TTg ngày 05/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ, đội ngũ CB, CC xã người DTTS ở Tây Nguyên vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: trình độ học vấn và chuyên môn còn thấp, năng lực chỉ đạo thực tiễn chưa cao, tình trạng hẫng hụt cán bộ xuất hiện khi thế hệ trưởng thành trong kháng chiến nghỉ hưu. Công tác tạo nguồn gặp nhiều khó khăn do phong trào quần chúng ở buôn làng hiệu quả chưa cao, chính sách thu hút chưa đủ mạnh, và công tác phát triển đảng viên còn hạn chế (còn 604 thôn buôn chưa có chi bộ độc lập, 51 thôn buôn chưa có đảng viên). Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Trương Thị Bạch Yến đã thực hiện luận án tiến sĩ khoa học chính trị chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 31 23 01) tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2014 với đề tài: "Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay".
Mục đích nghiên cứu của luận án: Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc tạo nguồn CB, CC xã là người DTTS ở Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh việc tạo nguồn đội ngũ này đến năm 2020.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
- Khái quát tình hình Tây Nguyên, hệ thống chính trị các xã, đặc điểm, vai trò của CB, CC và nguồn CB, CC xã người DTTS ở Tây Nguyên.
- Làm rõ khái niệm, nội dung, phương thức, vai trò tạo nguồn CB, CC xã người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên.
- Đánh giá đúng thực trạng nguồn và công tác tạo nguồn CB, CC xã người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên, rút ra nguyên nhân của thực trạng, những kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra từ thực tiễn.
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh việc tạo nguồn CB, CC xã là người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên đến năm 2020.
Đối tượng nghiên cứu: Tạo nguồn CB, CC xã người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên nước ta hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Khảo sát và nghiên cứu tại 5 tỉnh Tây Nguyên, gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng.
- Thời gian: Khảo sát từ khi có Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước (1997) đến thời điểm nghiên cứu (năm 2014); xác định phương hướng và giải pháp thực hiện đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài:
Nhóm các công trình nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nghiên cứu về công tác cán bộ và tạo nguồn cán bộ nói chung: Các công trình nền tảng như sách "Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới" (1998) của Trần Xuân Sầm (chủ biên); "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" (2001) của Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm; Đề tài KX.09 của Bộ Nội vụ (2002-2004); sách của Vũ Văn Hiền, Trần Quang Nhiếp, Lê Đức Bình (2007); sách của Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2011); bài viết của Vũ Văn Hiền và Tạ Xuân Đại (2004). Về khâu đào tạo và luân chuyển, có đề tài cấp Bộ (1998-1999) của Trần Ngọc Uẩn và đề tài cấp Nhà nước (2002) của Trần Đình Hoan. Về tạo nguồn cán bộ cụ thể, có các bài viết thực tiễn của Võ Trọng Việt (2007), Nguyễn Văn Bình (2009), Thủy Anh (2009), Lê Xuân Lịch (2010), Bùi Văn Tiếng (2010); bài viết phân tích tạo nguồn từ xa và trực tiếp của Đỗ Xuân Định (1998); đề tài cấp Bộ về tạo nguồn cán bộ cơ sở Tây Bắc của Đoàn Minh Huấn (2005); đề tài của Trần Thị Hương (2009) về cán bộ xã vùng đặc biệt khó khăn; luận văn thạc sĩ của Trần Hoàng Khải (2010) tại Bạc Liêu.
- Nghiên cứu về cán bộ cấp xã và cán bộ người DTTS: Các sách chuyên khảo của Nguyễn Quốc Phẩm (2000), Hoàng Chí Bảo (2005), Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ (2004); đề tài của Nguyễn Thế Vịnh (2007); luận văn của Lê Thị Lý (2003). Về lịch sử chính sách dân tộc, công trình của Đàm Thị Uyên (1998) chỉ rõ chính sách "nhu viễn" kết hợp biện pháp cương quyết của các triều đại phong kiến. Về xây dựng cán bộ DTTS, sách chuyên khảo của Lê Thị Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng (2005) tập hợp nghiên cứu của Ngô Kim Ngân, Nguyễn Hữu Ngà, Nguyễn Văn Sáu, Ngô Kim Khôi, Hoàng Văn Hiện; công trình về nguồn cán bộ DTTS miền núi phía Bắc của Lô Quốc Toản (2010).
- Nghiên cứu về Tây Nguyên, DTTS Tây Nguyên và tạo nguồn cán bộ tại chỗ: Các công trình về văn hóa - xã hội Tây Nguyên của Trương Minh Dục (2005, 2008), Nguyễn Tấn Đắc (2005), Phạm Hảo (2007), Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam (2010); nghiên cứu về thiết chế buôn làng của Bùi Minh Đạo (2010); luận án của Nguyễn Mậu Dựng (2000); bài viết về tâm lý - văn hóa DTTS của Nguyễn Hồng Sơn (2005); kỷ yếu hội thảo năm 2009 của Đại học Đà Nẵng với các bài viết của Nguyễn Bạn, Blong Tiến, Đoàn Gia Dũng, Thái Thị Bích Vân; bài viết của Nguyễn Thị Tâm (2009); bài viết về Quyết định 253/QĐ-TTg của Nguyễn Văn Quý (2011); khảo sát xã hội học của Nguyễn Đình Tấn và Trần Thị Bích Hằng (2010). Các nghiên cứu thực tế tại địa phương gồm: Trần Ngọc Chi (2007), Trần Thiết (2011) tại Gia Lai; Viết Trọng (2010), Đức Hưng (2012) tại Lâm Đồng; Trần Thanh Long (2012) tại Đắk Nông; Huỳnh Trung Kim (2006), Sở Nội vụ Kon Tum (2009) tại Kon Tum; Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk, Nguyễn Phú Lập (2012) tại Đắk Lắk.
Nhóm các công trình nghiên cứu nước ngoài:
- Vấn đề phát triển nhân lực: Các nghiên cứu quản lý nhân sự của Mitokaza Aoki (1993), Matsushita Konosuke (1999) và bài viết về kinh nghiệm phát triển nhân lực của Yasuhiko Inoue tại Nhật Bản.
- Xây dựng đội ngũ CB, CC tại Lào: Các bài viết của Unkẹo Sipasợt (2009), Bunthoong Chitmany (2011), Litthi Sisouvong (2011) và luận án của La Chay Sinh Su Van (2011) về kinh nghiệm đánh giá, quy hoạch, luân chuyển và đào tạo cán bộ cơ sở.
- Lý luận và thực tiễn tạo nguồn cán bộ tại Trung Quốc: Các tham luận của Hạ Quốc Cường, Tôn Hiểu Quần, Giả Cao Kiến, Chu Phúc Khởi (2004) về xây dựng cán bộ dự bị; tài liệu của Triệu Lý Văn về nguyên tắc giáo dục, đào tạo cán bộ.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Mặc dù đã có nhiều công trình đề cập đến công tác cán bộ, xây dựng cán bộ cơ sở hoặc cán bộ DTTS, phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận vấn đề một cách phân tán, đồng nhất tạo nguồn với quy hoạch hoặc đào tạo đơn thuần. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống và toàn diện về tạo nguồn CB, CC xã là người DTTS trên phạm vi 5 tỉnh Tây Nguyên. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng khung lý luận chỉnh thể (khái niệm, nội dung, phương thức, vai trò), đánh giá thực trạng nguồn và công tác tạo nguồn gắn với đặc thù kinh tế - xã hội, văn hóa buôn làng, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp đặc thù, khả thi đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác cán bộ, tạo nguồn cán bộ, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII (Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước) và Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở.
Khung khái niệm và căn cứ văn bản:
- Cán bộ xã và công chức xã được xác định theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Cán bộ xã là người được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ; công chức cấp xã là người được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) xã, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
- Đề án "Một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên" ban hành kèm theo Quyết định số 253/QĐ-TTg ngày 05/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp lôgic - lịch sử: Đánh giá quá trình hình thành, phát triển của đội ngũ cán bộ DTTS Tây Nguyên qua các thời kỳ gắn liền với các mốc chính sách của Đảng và Nhà nước.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý dữ liệu lý luận và thực tiễn để khái quát thành các luận điểm khoa học.
- Phương pháp hệ thống: Tiếp cận công tác tạo nguồn cán bộ như một quy trình đồng bộ gồm nhiều khâu liên kết chặt chẽ trong hệ thống chính trị cơ sở.
- Phương pháp thống kê - so sánh: So sánh tương quan giữa tỷ lệ dân số DTTS và tỷ lệ cán bộ DTTS trong bộ máy, đối chiếu trình độ và cơ cấu cán bộ qua các năm và giữa các địa phương trong vùng.
- Phương pháp điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn và phỏng vấn chuyên gia: Thu thập thông tin thực tế từ cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ làm công tác tổ chức tại địa phương.
Nguồn tư liệu, dữ liệu:
- Văn bản báo cáo, bảng biểu thống kê lưu trữ của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, các Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), UBND, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ 5 tỉnh Tây Nguyên.
- Dữ liệu từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009; số liệu thống kê giáo dục năm học 2010-2011; số liệu thống kê hệ thống chính trị cơ sở Tây Nguyên tính đến năm 2012.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 1 tập trung làm rõ bối cảnh không gian kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, cấu trúc hệ thống chính trị cấp xã, các đặc điểm văn hóa tộc người và xác lập khung lý luận về tạo nguồn CB, CC xã người DTTS.
Tây Nguyên có diện tích tự nhiên 54.639 km², mật độ dân số 93 người/km². Bốn trong năm tỉnh (trừ Lâm Đồng) thuộc Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, có 590 km đường biên giới giáp hai nước bạn (135 km với Lào, 455 km với Campuchia), đi qua 32 xã biên giới. Đến đầu năm 2012, toàn vùng có 722 đơn vị hành chính cấp xã (trong đó có 598 xã, chiếm 82,83%), 7.616 thôn, buôn, làng, tổ dân phố (trong đó có 2.464 buôn, làng DTTS). Dân số là 5.258 nghìn người với 47 dân tộc, trong đó DTTS có 1.877 nghìn người (chiếm 37,84%). Tỷ lệ người DTTS phân bố không đều giữa các tỉnh:
| Tỉnh |
Số lượng dân tộc thiểu số |
Tỷ lệ dân số DTTS (%) |
Các dân tộc thiểu số chủ yếu |
| Kon Tum |
34 |
53,60% |
Xơ-đăng (25,1%), Ba-na (12,0%), Giẻ-triêng (8,1%), Gia-rai (5,1%) |
| Gia Lai |
33 |
44,70% |
Gia-rai và Ba-na (chiếm gần 43%) |
| Đắk Nông |
39 |
32,07% |
M'Nông, Nùng, Mông, Tày, Dao |
| Lâm Đồng |
32 |
22,80% |
Dân tộc tại chỗ (16,1%), các DTTS khác (6,7%) |
| Đắk Lắk |
43 |
30,00% |
Ê-đê, M'Nông, Thái, Tày, Nùng (cư trú tại 125/170 xã, phường) |
Về mặt văn hóa - xã hội, cộng đồng DTTS tại chỗ gồm 12 dân tộc (chiếm 26,1% dân số toàn vùng), đông nhất là Gia-rai, Ê-đê, Ba-na; ít nhất là Rơ-mâm, Brâu. Các dân tộc khác di cư đến chiếm 11,74% dân số. Toàn vùng có khoảng 530.000 người DTTS theo đạo Tin lành và Công giáo (chiếm 31,18% tổng số tín đồ các tôn giáo). Hình thái tổ chức xã hội cổ truyền là buôn làng (plei, plơi, buôn, bon) khép kín, vận hành theo luật tục, chịu ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ và vai trò định hướng của người có uy tín (già làng, trưởng thôn, thầy cúng, trí thức, chức sắc tôn giáo). Đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn với tỷ lệ hộ nghèo DTTS là 40,5% (năm 2011). Mạng lưới giáo dục có bước tiến với 2.151 trường phổ thông, 339.640 học sinh DTTS và 54 trường phổ thông dân tộc nội trú (5 trường cấp tỉnh, 49 trường cấp huyện) trong năm học 2010-2011, song mặt bằng dân trí nhìn chung vẫn còn thấp.
Về cấu trúc hệ thống chính trị cấp xã, luận án tổng hợp khung chức danh cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật và thực tế áp dụng tại Tây Nguyên:
| Phân loại chức danh |
Quy định theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 |
Cơ cấu bố trí thực tế tại xã ở Tây Nguyên |
| Cán bộ cấp xã (Bầu cử theo nhiệm kỳ) |
- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND - Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc - Bí thư Đoàn Thanh niên CSHCM - Chủ tịch Hội Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh |
Bố trí 6 chức danh chủ chốt: - Cơ quan Đảng: 2 cán bộ (Bí thư kiêm Chủ tịch HĐND; Phó Bí thư thường trực kiêm Chủ nhiệm UBKT) - UBND xã: 3 cán bộ (Chủ tịch và 2 Phó Chủ tịch) - HĐND xã: 1 cán bộ (Phó Chủ tịch HĐND) (Xã phức tạp có thêm 1 Phó Bí thư phụ trách dân tộc - tôn giáo hoặc xây dựng cơ sở) |
| Công chức cấp xã (Tuyển dụng chuyên môn) |
7 chức danh chuyên môn nghiệp vụ: 1. Trưởng Công an 2. Chỉ huy trưởng Quân sự 3. Văn phòng - thống kê 4. Địa chính - nông nghiệp - xây dựng - môi trường 5. Tài chính - kế toán 6. Tư pháp - hộ tịch 7. Văn hóa - xã hội |
Thực hiện theo 7 chức danh chuyên môn; nhiều xã bố trí 2 công chức trên mỗi chức danh chuyên môn (Văn phòng - thống kê, Địa chính, Tài chính, Tư pháp, Văn hóa - xã hội) để bảo đảm công việc. |
Về mặt lý luận, luận án xác định khái niệm: Tạo nguồn CB, CC xã người DTTS ở các tỉnh Tây Nguyên là quá trình chủ động, có mục đích, có kế hoạch của các cấp ủy đảng và hệ thống chính trị nhằm phát hiện, lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, rèn luyện và bố trí thử thách những người ưu tú là người DTTS nhằm chuẩn bị lực lượng sẵn sàng đáp ứng tiêu chuẩn để bầu cử hoặc tuyển dụng vào các chức danh CB, CC xã. Luận án phân định hai phương thức tạo nguồn: tạo nguồn từ xa (thông qua phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, phát hiện nhân tố tích cực từ trường dân tộc nội trú, sinh viên cử tuyển) và tạo nguồn trực tiếp (tuyển chọn qua thực tiễn phong trào quần chúng, thử thách cán bộ thôn buôn, đào tạo cán bộ dự nguồn tại chỗ).
Chương 2: Nguồn và tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm và vấn đề đặt ra
Chương 2 đánh giá thực trạng đội ngũ và công tác tạo nguồn qua số liệu cụ thể:
- Thực trạng nguồn: Đội ngũ CB, CC xã người DTTS có trên 6.300 người (chiếm 26,8% trong tổng số hơn 23.500 CB, CC cơ sở). Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ dân số DTTS toàn vùng (37,84%). Trình độ học vấn, chuyên môn và lý luận chính trị nhìn chung chưa đạt chuẩn chức danh; năng lực quản lý hành chính nhà nước và cụ thể hóa nghị quyết cấp trên còn hạn chế. Đáng lưu ý là hiện tượng hẫng hụt thế hệ cán bộ sau khi lớp cán bộ tham gia kháng chiến nghỉ chế độ. Tình trạng di dân cơ học tạo ra nghịch lý: con em DTTS sau khi học đại học ở các đô thị có xu hướng ở lại không về xã (chảy máu nhân lực chất lượng cao), trong khi dòng người di cư tự do nghèo khó từ các tỉnh phía Bắc vào tiếp tục gia tăng.
- Thực trạng công tác tạo nguồn: Các địa phương đã có nhiều nỗ lực cụ thể như mở các lớp dự nguồn trung cấp lý luận chính trị và chuyên môn (Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng); tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học về cơ sở (Đề án 03 của Tỉnh ủy Gia Lai); chính sách đỡ đầu con em DTTS học tập của huyện Kon Plông (Kon Tum). Tuy nhiên, công tác phát hiện, quy hoạch nguồn còn mang tính chắp vá, bị động. Việc phát triển nguồn qua phong trào quần chúng tại cơ sở bị nghẽn do tỷ lệ thôn buôn chưa có tổ chức đảng còn cao: toàn vùng có 604 thôn, buôn, tổ dân phố chưa có chi bộ độc lập (chiếm 7,93%) và 51 thôn, buôn chưa có đảng viên (chiếm 0,67%). Cơ sở vật chất làm việc tại các xã vùng sâu còn thiếu thốn; chính sách đãi ngộ chưa đủ sức thu hút cán bộ yên tâm công tác lâu dài.
- Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm: Nguyên nhân khách quan xuất phát từ xuất phát điểm kinh tế thấp, địa bàn chia cắt, tập quán sản xuất lạc hậu, hoạt động kích động chống phá của các thế lực thù địch (các biến động an ninh chính trị năm 2001, 2004). Nguyên nhân chủ quan do nhận thức của một số cấp ủy chưa đầy đủ, công tác quy hoạch còn khép kín, chưa gắn chặt đào tạo với sử dụng. Luận án rút ra 4 kinh nghiệm: nâng cao trách nhiệm cấp ủy; gắn kết chặt chẽ quy hoạch với đào tạo và bố trí sử dụng; kết hợp chính sách đãi ngộ vật chất với động viên tinh thần; phát huy vai trò của tổ chức đảng cơ sở và người có uy tín buôn làng.
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên đến năm 2020
Chương 3 dự báo các yếu tố tác động (sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, di dân, yêu cầu xây dựng nông thôn mới, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết) và đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng, giải pháp đến năm 2020:
- Phương hướng: Bảo đảm số lượng, nâng cao chất lượng, cơ cấu hợp lý tương ứng với tỷ lệ dân số DTTS tại từng địa bàn; thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhưng có tính đến yếu tố đặc thù dân tộc; kết hợp tạo nguồn tại chỗ với thu hút nhân lực chất lượng cao.
- Hệ thống giải pháp chủ yếu gồm:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng và hệ thống chính trị về công tác tạo nguồn CB, CC xã người DTTS.
- Đổi mới và thực hiện đồng bộ các khâu trong quy trình tạo nguồn: phát hiện, đánh giá, quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý và sử dụng nguồn.
- Củng cố, phát triển và giao trách nhiệm cụ thể cho hệ thống các trường dân tộc nội trú, các cơ sở giáo dục - đào tạo trên địa bàn Tây Nguyên tham gia tạo nguồn CB, CC xã người DTTS.
- Xây dựng, củng cố và phát huy vai trò của hệ thống chính trị xã, lực lượng người có uy tín trong cộng đồng DTTS ở thôn, buôn tham gia tạo nguồn CB, CC xã.
- Đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên và củng cố tổ chức đảng ở thôn buôn, kiên quyết xóa thôn buôn "trắng" đảng viên và "trắng" chi bộ.
- Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt các chế độ, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ đối với nguồn và đội ngũ CB, CC xã người DTTS.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo công bố của tác giả trong luận án, công trình đạt được những kết quả và đóng góp mới sau:
Về mặt lý luận:
- Làm rõ nội hàm khái niệm, nội dung và các phương thức tạo nguồn CB, CC xã người DTTS tại địa bàn miền núi, vùng đồng bào DTTS sinh sống. Nội dung tạo nguồn được xác định thành quy trình hoàn chỉnh gồm: phát hiện, tuyển chọn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, thử thách rèn luyện và sàng lọc.
- Phân tích sâu sắc sự tác động đan xen hai mặt của thiết chế buôn làng cổ truyền, phong tục tập quán, tâm lý tộc người và vai trò của người có uy tín đối với việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của đội ngũ CB, CC xã người DTTS.
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Tổng kết thực tiễn, làm rõ thực trạng nguồn và công tác tạo nguồn tại 5 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn từ năm 1997 đến 2014, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm.
- Đề xuất hai giải pháp mang tính đặc thù cao, có tính khả thi đối với vùng Tây Nguyên:
- Củng cố, phát triển và giao trách nhiệm cụ thể cho hệ thống các trường dân tộc nội trú và các cơ sở giáo dục - đào tạo trên địa bàn: Khai thác hệ thống 54 trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh và huyện như một vườn ươm tạo nguồn từ xa; gắn chỉ tiêu đào tạo nội trú với địa chỉ sử dụng của từng xã; kết hợp dạy văn hóa với rèn luyện kỹ năng công tác xã hội để chủ động chuẩn bị nguồn cán bộ cơ sở.
- Xây dựng, củng cố và phát huy vai trò hệ thống chính trị xã cùng lực lượng người có uy tín trong cộng đồng DTTS ở thôn, buôn: Tận dụng ảnh hưởng tự nhiên của già làng, trưởng thôn, chức sắc tôn giáo, đảng viên tiền bối trong việc phát hiện, động viên, thẩm tra và định hướng thanh niên ưu tú người DTTS tham gia học tập, rèn luyện để bổ sung vào nguồn cán bộ, công chức cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại cấp xã thuộc 5 tỉnh Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng), do đó các kết luận chưa bao quát được các địa bàn vùng DTTS khác có đặc điểm văn hóa, tập quán khác biệt (như vùng núi cao phía Bắc hay vùng đồng bằng sông Cửu Long).
- Nguồn số liệu thống kê trong văn bản chủ yếu tập trung đến mốc năm 2012 và một số dữ liệu đến năm 2014; chưa phản ánh hết những biến động nhân khẩu học phức tạp do làn sóng di dân tự do tiếp diễn sau giai đoạn này.
- Các khảo sát thực địa chưa bao quát đồng đều được tất cả các xã vùng sâu, vùng biên giới đặc biệt khó khăn do trở ngại về giao thông và điều kiện khảo sát.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá kết quả triển khai hệ thống giải pháp của luận án sau mốc năm 2020.
- Nghiên cứu so sánh công tác tạo nguồn CB, CC cấp xã người DTTS giữa vùng Tây Nguyên với các vùng dân tộc khác như Tây Bắc và Tây Nam Bộ để hoàn thiện lý luận chung về công tác cán bộ DTTS của Đảng.
- Nghiên cứu sâu về cơ chế thi tuyển và chuẩn hóa chức danh công chức chuyên môn cấp xã người DTTS trong bối cảnh cải cách hành chính và chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước tại cơ sở.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo rõ rệt đối với các nhóm đối tượng và mục đích sau:
- Đối với cấp ủy và cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ tại 5 tỉnh Tây Nguyên: Luận án là tài liệu tham khảo thực tiễn hữu ích cho ban tổ chức tỉnh ủy, huyện ủy và đảng ủy xã trong việc xây dựng đề án quy hoạch cán bộ, xây dựng kế hoạch cử tuyển và chỉ tiêu đào tạo nguồn nhân lực DTTS theo địa chỉ.
- Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng: Phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, học tập chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các Học viện Chính trị khu vực, trường chính trị 5 tỉnh Tây Nguyên và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Phần phân tích thực trạng hệ thống chính trị cơ sở, tổ chức đảng thôn buôn tại Chương 2 và nhóm giải pháp liên kết hệ thống trường dân tộc nội trú, phát huy vai trò người có uy tín buôn làng tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ cán bộ, công chức cấp cơ sở là người DTTS tại Tây Nguyên ở thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Toàn vùng Tây Nguyên có trên 23.500 cán bộ, công chức cấp cơ sở, trong đó người DTTS chiếm 26,8%. Tỷ lệ này chưa tương xứng với tỷ lệ dân số DTTS chiếm 37,84% trên toàn vùng.
2. Bộ máy chính quyền xã tại Tây Nguyên được bố trí theo cơ cấu chức danh nào?
Chính quyền xã gồm HĐND và UBND xã. Thông thường mỗi xã bố trí 6 chức danh cán bộ chủ chốt: 2 cán bộ thuộc cơ quan Đảng (Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch HĐND; Phó Bí thư thường trực kiêm Chủ nhiệm UBKT); 3 cán bộ thuộc UBND (Chủ tịch và 2 Phó Chủ tịch); 1 cán bộ thuộc HĐND (Phó Chủ tịch HĐND). Các xã trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự có thêm 1 Phó Bí thư phụ trách dân tộc - tôn giáo hoặc xây dựng cơ sở. Khối công chức gồm 7 chức danh chuyên môn theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
3. Thực trạng tổ chức đảng ở cấp thôn, buôn tại Tây Nguyên ở thời điểm nghiên cứu có điểm gì đáng chú ý?
Toàn vùng có 604 thôn, buôn, tổ dân phố chưa thành lập chi bộ độc lập (chiếm tỷ lệ 7,93%) và 51 thôn, buôn chưa có đảng viên (chiếm tỷ lệ 0,67%). Đây là trở ngại lớn đối với công tác phát hiện, bồi dưỡng quần chúng ưu tú người DTTS để tạo nguồn cán bộ.
4. Hai giải pháp đặc thù mang tính đóng góp mới của luận án là gì?
Luận án đề xuất hai giải pháp đặc thù: một là củng cố, phát triển và giao trách nhiệm cụ thể cho hệ thống 54 trường phổ thông dân tộc nội trú và các cơ sở đào tạo trong vùng tham gia tạo nguồn từ xa; hai là củng cố hệ thống chính trị xã và phát huy vai trò của lực lượng người có uy tín (già làng, trưởng thôn, chức sắc tôn giáo) trong buôn làng tham gia tạo nguồn cán bộ cơ sở.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trương Thị Bạch Yến đã nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vấn đề tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số tại 5 tỉnh Tây Nguyên từ góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng việc tổng hợp số liệu khảo sát thực tế và phân tích sâu sắc các yếu tố đặc thù về địa bàn, văn hóa buôn làng, công trình đã chỉ rõ những thành tựu cũng như khoảng trống, bất cập trong công tác cán bộ cơ sở tại địa bàn chiến lược này. Hệ thống quan điểm, phương hướng và hai giải pháp đặc thù được đề xuất đến năm 2020 cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn có giá trị, góp phần hỗ trợ các cấp ủy đảng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số, phục vụ sự ổn định và phát triển bền vững của vùng Tây Nguyên.