CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO LẬP QUAN HỆ LAO ðỘNG TÍCH CỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Quan hệ lao ñộng Con người ở bất kỳ xã hội nào ñều có mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau bởi các mối quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội là một tổng thể, một hệ thống các mối quan hệ giữa người với người rất phức tạp, bao gồm: quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan lệ lao ñộng, quan hệ hành chính, quan hệ dân sự, ., nhờ các mối quan hệ này con người mới tồn tại, phát triển như một thực thể, một thành viên cuuar cộng ñồng xã hội.
Xã hội càng văn minh, phân công lao ñộng càng phát triển thì các mối quan hệ ñó càng ña dạng, phong phú. Mặc dù hoạt ñộng của con người rất ña dạng, phong phú và diễn ra trong nhiều lĩnh vực, nhưng trước ñây quan hệ lao ñộng thường chỉ ñược hiểu là quan hệ chủ - thợ. Mối quan hệ này ñược ñặc biệt chú ý khi nhưng xung ñột chủ - thợ nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa. Do vậy, thuật ngữ “Industrial Relations" khi mới ra ñời thường nhấn mạnh ñến các mối quan hệ chủ - thợ trong môi trường công nghiệp.
Ngày nay, dưới tác ñộng của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, những mối quan hệ như vậy không chỉ diễn ra phổ biến trong lĩnh vực công nghiệp mà trong mọi lĩnh vực của mỗi nền kinh tế - xã hội. Thuật ngữ “Industrial Relations‘‘ do vậy ñược hiểu ñồng nghĩa với thuật ngữ “Labour Relations‘‘ và cùng có nghĩa là quan hệ lao ñộng. Tổ chức lao ñộng quốc tế (ILO) ñưa ra ñịnh nghĩa về quan hệ lao ñộng (QHLð): “Những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa người lao ñộng (NLð) và người sử dụng lao ñộng (NSDLð) tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ Luan van 8 giữa các ñại diện của họ với nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lý học, bao gồm cả những vấn ñề như tuyển dụng, thuê mướn, sắp xếp công việc, ñào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp ñồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn ñề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm ñau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật.’’ [7] PGS,TS Nguyễn Tiệp, Trường ðại học Lao ñộng Xã hội cho rằng:[5] “Quan hệ lao ñộng là hệ thống các mối quan hệ giữa các cá nhân hay tổ chức ñại diện NLð với các cá nhân hay tổ chức ñại diện của NSDLð hoặc giữa các tổ chức ñại diện của họ với Nhà nước và các chủ thể khác.
Những mối quan hệ này diễn ra xoay quanh quá trình thuê mướn lao ñộng (giữa NSDLð và NLð) nhằm ñảm bảo sự hài hòa và ổn ñịnh về lợi ích của các bên liên quan”. Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về QHLð nhưng nhìn chung, tất cả các nhà khoa học ñều thống nhất ở một số ñiểm chính như sau: - QHLð trước hết là một hệ thống các mối quan hệ qua lại phức tạp giữa NLð và NSDLð. - NLð và NSDLð ñóng vai trò quyết ñịnh vì trạng thái ổn ñịnh của QHLð chỉ có thể tồn tại trên nền tảng mối quan hệ lợi ích hài hòa giữa hai chủ thể này. - Chịu sự ñiều chỉnh về mặt pháp lý và những can thiệp trực tiếp khi cần thiết của Nhà nước.
- QHLð diễn ra trong tất cả các ngành nhưng những mối quan hệ này trở nên phức tạp hơn ở những ngành sử dụng nhiều lao ñộng. ðặc biệt là ngành công nghiệp. Tùy thuộc theo quan niệm rộng hay hẹp về quan hệ lao ñộng nhưng ña số các ñịnh nghĩa ñều cho rằng “QHLð là một hệ thống bao gồm nhiều chủ Luan van 9 thể tương tác lẫn nhau trong quá trình lao ñộng sản xuất. Các chủ thể này gồm các cá nhân ñơn lẻ và cả các tổ chức ñại diện của họ ở các cấp khác nhau (doanh nghiệp, ngành, vùng, quốc gia).
Ngoài các chủ thể là người lao ñộng, người sử dụng lao ñộng, còn có những chủ thể khác ñóng vai trò quản lý, hỗ trợ, phán xét. QHLð không phải quan hệ thuần nhất mà là một tập hợp gồm nhiều mối quan hệ giữa các chủ thể trên thị trường lao ñộng thông qua các cơ chế khác nhau: Cơ chế hai bên, cơ chế ba bên, cơ chế ña phương,. Trong mối QHLð, các bên QHLð thường khó tự tiến hành quan hệ này một cách ñộc lập. ðể biến mục tiêu của mình thành hiện thực, các bên thường liên kết lại thành tổ chức.
ðối với người lao ñộng, ñó là công ñoàn. Trước hết, công ñoàn là người ñứng ra ñại diện cho họ trong các cuộc thương lượng, nhằm giành ñược sự nhượng bộ nhiều hơn của người sử dụng lao ñộng. Thứ hai, người lao ñộng ñược công ñoàn giúp ñỡ trong các tình thế cần thiết như nguy cơ mất việc, hay bị kỷ luật, ñược chia sẻ và trang bị những kỷ năng tự bảo vệ,. ðối với người sử dụng lao ñộng ñó là tổ chức ñại diện người sử dụng lao ñộng với nhiều nhiệm vụ, trong ñó một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất trong quan hệ lao ñộng là ñại diện cho người sử dụng lao ñộng trong các cuộc ñối thoại và thương lượng ñể xây dựng thỏa ước lao ñộng các cấp, nghiên cứu thị trường lao ñộng, trang bị cho doanh nghiệp các kỹ năng thương lượng, ñàm phán, hợp tác, cung cấp các kiến thức về quan hệ lao ñộng, về nghệ thuật quản lý, về thương mại,.
ñể tăng cường sức cạnh tranh và khả năng chiếm lĩnh thị trường của các doanh nghiệp thành viên. Bên cạnh các nhóm chủ thể nêu trên, trong QHLð còn có các nhóm chủ thể khác, ñó là Nhà nước, những thiết chế của nhà nước (tòa án hoặc trọng tài) và những thiết chế phi chính phủ, cơ quan tài phán (cơ quan hòa giải lao ñộng hay trọng tài lao ñộng tự nguyện). Họ là bên thứ ba, là người giúp ñỡ các bên của thị trường lao ñộng trong những tình huống cần thiết nhằm dung Luan van 10 hòa lợi ích của các bên phù hợp với lợi ích chung của xã hội, chủ yếu là việc ñịnh ra pháp luật và giải quyết xung ñột hay tranh chấp lao ñộng. Tóm lại, QHLð là hệ thống các mối quan hệ giữa các cá nhân hay tổ chức ñại diện của người lao ñộng với cá nhân hay tổ chức ñại diện của người sử dụng lao ñộng hoặc giữa các tổ chức ñại diện của họ với nhà nước và các chủ thể khác.
Những mối quan hệ này diễn ra xoay quanh quá trình thuê mướn lao ñộng (giữa người sử dụng lao ñộng và người lao ñộng) nhằm ñảm bảo sự hài hòa và ổn ñịnh về lợi ích của các bên liên quan. Các chủ thể của quan hệ lao ñộng Sơ ñồ 1. Mô hình các chủ thể của quan hệ lao ñộng Các chủ thể QHLð là những cá nhân hay tổ chức tham gia vào QHLð ở các cấp khác nhau như cấp quốc gia, cấp ñịa phương, cấp ngành và cấp doanh nghiệp. Có ba chủ thể chính tham gia vào các mối quan hệ này là: Người lao ñộng và tổ chức ñại diện của họ (Công ñoàn): Luan van 11 - Người lao ñộng: là những người tham gia vào một hợp ñồng mà theo ñó họ phải thực hiện một công việc nhất ñịnh, ñược cung cấp các phương tiện vật chất cần thiết ñể làm và ñược nhận một số tiền nhất ñịnh theo hợp ñồng quy ñịnh.
- Tổ chức ñại diện cho người lao ñộng: Công ñoàn là tổ chức ñại diện cho NLð trong phạm vi QHLð, có cơ cấu chính thức và mục tiêu rõ ràng. Công ñoàn hoạt ñộng với các chức năng chủ yếu là bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính ñáng của NLð; giáo dục và giúp NLð phát triển ý thức nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tham gia quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước ñể góp phần thúc ñẩy xã hội phát triển. Có thể nói, công ñoàn là biểu thượng cụ thể cho sự ñoàn kết, của mối liên hệ giữa người với người trong quá trình làm việc. Người sử dụng lao ñộng và tổ chức ñại diện cho NSDLð: - Người sử dụng lao ñộng: ðây là một khái niệm phức tạp, hơi mơ hồ và dễ nhầm lẫn.
Theo cách suy nghĩ cổ ñiển, NSDLð là người sở hữu vốn, là người chủ hợp ñồng (nên còn ñược gọi là giới chủ). Nhưng hiện nay, trong nền kinh tế hiện ñại không nhất thiết NSDLð phải là chủ sở hữu doanh nghiệp và chỉ cần họ có quyền tuyển dụng, sử dụng, sa thải lao ñộng. Vì vậy, trong pháp luật lao ñộng của một số nước, tất cả những người làm công tác quản lý (tổng giám ñốc, giám ñốc, phó giám ñốc) ñều ñược gọi là NSDLð. - Tổ chức ñại diện cho người sử dụng lao ñộng: Trong giai ñoạn ñầu công nghiệp hóa ở các nước phát triển, giới chủ chưa có xu hướng liên kết mà thường chỉ cạnh tranh với nhau.
Tuy nhiên, khi các cấp chính quyền ñược tổ chức ngày càng chặt chẽ hơn, công ñoàn ngày càng có kinh nghiệm hơn trong hoạt ñộng chính trị thì các chủ doanh nghiệp thấy cần phải hợp sức lại. Các hiệp hội giới chủ (ñại diện cho NSDLð) ra ñời, hoạt ñộng bằng kinh phí ñóng góp của các doanh nghiệp thành viên và ñảm nhận các vai trò của các doanh nghiệp thành viên và ñảm bảo các vai trò bảo vệ quyền lợi của hội viên, ñào Luan van 12 tạo cho giới chủ về khía cạnh nghề nghiệp, ñối thoại với Nhà nước và các phương tiện truyền thông ñại chúng, tạo ñối trọng với công ñoàn. Nhà nước (chính quyền): Trong hệ thống QHLð, Nhà nước ñược hiểu như là một bên ñối tác thứ ba, ñại diện cho lợi ích của quốc gia và toàn thể cộng ñồng, cũng như ñiều hòa mối quan hệ giữa hai ñối tác khác của QHLð ñó là NLð và NSDLð. Trong buổi sơ khai, QHLð chỉ mới diễn ra giữa giới chủ và giới thợ mà chưa có sự can thiệp của Nhà nước, trong quan hệ ñó, NLð luôn ở thế yếu và hay chịu thiệt thòi, nên dẫn ñến mâu thuẩn lớn giữa NLð và NSDLð.
Do ñó, Nhà nước thấy cần phải tham gia vào vì sự ổn ñịnh xã hội. Những can thiệp ban ñầu của Nhà nước là quy ñịnh các mức lương tối thiểu, thời gian làm việc tối ña trong ngày, trong tuần, trong năm … Mối quan hệ ba bên dần ñược hình thành và Nhà nước có các chức năng chủ yếu là: - ðại diện cho lợi ích quốc gia và cộng ñồng trong QHLð.