Chương 1: Cơ sở lý luận về viên chức y tế và tạo động lực làm việc cho viên chức tại Bệnh viện huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho viên chức tại Bệnh viện huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Giải pháp tạo động lực làm việc cho viên chức tại Bệnh viện huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIÊN CHỨC Y TẾ VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC TẠI BỆNH VIỆN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.Một số vấn đề chung về viên chức và viên chức y tế 1.Khái niệm viên chức Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.Khái niệm viên chức y tế Viên chức y tế là những người làm việc trong các cơ sở y tế (các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế,…).
Hoạt động của viên chức y tế không mang tính chất quyền lực nhà nước, mà thuần túy mang tính chất chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên sâu.Đặc điểm của viên chức y tế Viên chức y tế thường xuyên phải tiếp xúc với những người có sức khỏe về thể chất và tinh thần không bình thường. Người bệnh là người có tổn thương về thể chất và tinh thần, họ luôn lo lắng bức xúc với tình trạng bệnh tật của mình. Đặc thù của nghề y và giá trị riêng biệt của nghề y đức với thiên chức cống hiến cho nhân loại là trước khi một bác sĩ ra trường phải tuyên thề trước Hippocrates nếu giữ lời thề này một cách thành khẩn thì sẽ được an hưởng đời tôi và thực hành nghề tôi, được mọi người kính trọng mãi mãi. Nếu vi phạm lời thề, những điều ngược lại sẽ đến với tôi.
Qua đó, cho thấy nghề y luôn một 8 nghề cao quý, cứu người luôn được mọi người tôn trọng đây là giá trị tinh thần còn giá trị vật chất chỉ là một phần nhỏ mà xã hội có trách nhiệm đảm bảo để đội ngũ y khoa thực hiện đúng thiên chức của mình.Vai trò của viên chức y tế và viên chức y tế bệnh viện đa khoa tuyến huyện Lao động đặc thù, gắn với trách nhiệm cao trước sức khỏe của con người và tính mạng của người bệnh. Lao động nặng nhọc, diễn ra liên tục cả ngày đêm, trong điều điện không phù hợp của quy luật sinh lý con người làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe nhân viên y tế, trực đêm, ngủ ngày và ngược lại.Lý luận chung về tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực và động lực làm việc 1.Khái niệm động lực Động lực có thể được hiểu nhiều góc độ khác nhau và trong thực tế có nhiều cách hiểu, nhiều quan điểm khác nhau về động lực như: Theo tác giả Fernald L.D cho rằng: “Động lực chính là cái được tạo ra từ cảm xúc, nhưng không phải một cách trừu tượng và chung chung, mà khi có động lực là có tính mục tiêu và tính định hướng, được quyết định bởi sự tăng hay giảm của cảm xúc”. 9 Nhìn chung, các tác giả trên có quan niệm khá tương đồng nhau về khái niệm động lực như về mục tiêu, định hướng.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả quan niệm: Động lực chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức động lực và tạo động lực, góp phần thúc đẩy con người tự nguyện, nỗ lực hoạt động nhằm hoàn thành mục tiêu đặt ra với kết quả tốt nhất. Từ quan niệm về động lực trên cho thấy nếu đưa vào thực tiễn thì trách nhiệm của Ban Giám đốc bệnh viện rất là quan trọng vì nếu lãnh đạo bệnh viện không quan tâm tạo ra các quy định, động cơ rõ ràng như giao chỉ tiêu chuyên môn về khám chữa bệnh (quy định bác sĩ phải khám bệnh tối thiểu 65 ca/ngày), thủ thuật và phẫu thuật, đào tạo mỗi năm phải 24 tiết/năm,….thì viên chức khó có động lực để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.Khái niệm động lực làm việc Về khái niệm động lực làm việc cũng có nhiều tác giả hiểu nhiều góc độ khác nhau và trong thực tế có nhiều cách hiểu, nhiều quan điểm khác nhau về động lực làm việc động lực như: Theo giáo trình Quản trị nhân lực của trường đại học kinh tế quốc dân, khái niệm động lực làm việc được hiểu: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. Theo giáo trình Hành vi tổ chức, khái niệm động lực làm việc được hiểu là: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [21].
Như vậy, có thể rút ra khái niệm về động lực làm việc như sau: Động lực 10 làm việc là sự thúc đẩy người lao động làm việc để cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Nếu như vậy, Ban Giám đốc Bệnh viện đưa ra một mục tiêu cụ thể như giao chỉ tiêu chuyên môn về khám chữa bệnh (quy định bác sĩ phải khám bệnh tối thiểu 65 ca/ngày), thủ thuật và phẫu thuật, đào tạo mỗi năm phải 24 tiết/năm,….thì viên chức khi có động lực làm việc đều cảm thấy thoải mái và tự nguyện trong thực hiện công việc.Khái niệm tạo động lực làm việc Là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khát khao cống hiến, sự tự nguyện của người lao động, buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Ngoài ra, cũng có nhiều cách hiểu về khái niệm tạo động lực làm việc như sau : Theo tác giả Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc” [19] Cùng quan điểm, tác giả Lê Thanh Hà (2015) cho rằng: “Tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người lao động khiến cho người lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao” [9]. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan (2019) [13] khái niệm tạo động lực làm việc được hiểu như sau:“Tạo động lực là quá trình sử dụng tổng hợp cách thức, biện pháp nhằm khuyến khích, động viên, khơi dậy niềm khát khao, tinh thần tự giác, tự nguyện của người lao động để họ nỗ lực, phấn đấu cho mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức” 11 Nhìn chung, các tác giả trên có quan niệm khá tương đồng nhau về khái niệm tạo động lực làm việc.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả quan niệm: Tạo động lực làm việc là quá trình cơ quan, tổ chức áp dụng tổng hợp các cách thức, biện pháp khuyến khích bằng vật chất và tinh thần nhằm khơi dậy, thôi thúc, người lao động tự nguyện, nỗ lực làm việc để đạt kết quả cao nhất, từ đó góp phần tăng năng suất và hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức. Do đó, Ban Giám đốc Bệnh viện phải đưa ra cách thức, biện pháp cụ thể như giao chỉ tiêu chuyên môn về khám chữa bệnh (quy định bác sĩ phải khám bệnh tối thiểu 65 ca/ngày), thủ thuật và phẫu thuật, đào tạo mỗi năm phải 24 tiết/năm, chỉ tiêu vượt năng suất lao động là phải đạt 10% mỗi chỉ tiêu: chuyên môn về khám bệnh, thủ thuật, phẫu thuật và công suất giường bệnh là 5% ….có kèm theo chế độ khen thưởng, tăng thu nhập tăng thêm thì viên chức khi có động lực làm việc đều cảm thấy thoải mái, hăng say, kích thích và tự nguyện trong thực hiện công việc.Bản chất của tạo động lực làm việc Gắn liền với công việc và môi trường làm việc, thể hiện thông qua công việc cụ thể mà của con người và thái độ của họ với tổ chức công tác. Không phải là đặc điểm mang tính cách cá nhân: Động lực thay đổi theo các yếu tố khách quan, ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả lao động Vì vậy, bản chất của người lao động là những gì kích thích con người hành động để đạt được mục tiêu nào đó. Mục tiêu của con người đặt ra là một cái có ý thức được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ.Vai trò của tạo động lực làm việc Tạo động lực chính là giúp viên chức hăng say làm việc, tăng năng suất lao động và tăng thu nhập.
Ngoài ra, tạo động lực còn góp phần nâng cao uy 12 tín, hình ảnh của đơn vị, tổ chức.Một số lý thuyết về tạo động lực làm việc 1.Lý thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow Có nhiều học thuyết về động lực làm việc, tuy nhiên các học thuyết đều có một kết luận chung là việc tăng cường động lực đối với người lao động sẽ dẫn đến nâng cao thành tích lao động và các thắng lợi lớn hơn của tổ chức [24]. Maslow (1908-1970) cho rằng: con người được thúc đẩy bởi nhiều nhu cầu khác nhau và những nhu cầu này được phân cấp theo thứ tự. Maslow đã chia nhu cầu thành năm cấp bậc theo một trật tự xác định: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện. Các quan niệm trên hoàn toàn đúng với thực tiễn trong cuộc sống hiện nay.
Tác giả sẽ phân tích từ nhu cầu sau đây: 13 Ghi chú: (5): Nhu cầu tự hoàn thiện; (4): Nhu cầu được tôn trọng; (3): Nhu cầu xã hội; (2): Nhu cầu an toàn; (1): Nhu cầu sinh lý. Tháp nhu cầu của Maslow Nhu cầu sinh lý: Là nhu cầu đảm bảo cho con người được ăn, uống, mặc, nhà ở, nghỉ ngơi,….