phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về chính sách tạo động lực làm việc cho viên chức đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Thực trạng chính sách tạo động lực làm việc cho viên chức đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tại vùng Duyên hải miền Trung. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện chính sách tạo động lực làm việc cho viên chức đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học trực thuộc Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam tại vùng Duyên hải miền Trung.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 1. Viên chức và viên chức đơn vị sự nghiệp NCKH 1. Viên chức Trong cuộc sống, bên cạnh những nhu cầu về vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển, con ngƣời còn có những nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, thông tin, Xã hội dần hình thành một bộ phận lao động đảm nhiệm những công việc đó.
Ban đầu những ngƣời làm các công việc này chỉ chiếm một số lƣợng nhỏ so với lao động tại các ngành nghề sản xuất khác. Sự phát triển của xã hội và chuyên môn hóa lao động ngày càng cao khiến cho lực lƣợng này ngày càng đông đảo và mang tính chất chuyên nghiệp hơn. Tùy từng giai đoạn, từng chế độ xã hội mà lực lƣợng này có tên gọi khác nhau hoặc có những khác biệt đôi chút trong quản lý, sử dụng và hoạt động cung cấp dịch vụ. Nhƣng có một điểm chung là những ngƣời làm công việc này có đƣợc một sự tôn trọng từ nhà nƣớc và xã hội.
Khái niệm viên chức đƣợc sử dụng trong các VBQPPL thay đổi theo từng thời kỳ tùy thuộc vào quan điểm của nhà nƣớc về đội ngũ này. Hiến pháp 1992 sử dụng cụm từ “cán bộ, viên chức” để chỉ chung những ngƣời làm việc tại các cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp. Theo đó viên chức là một khái niệm rất rộng, có khi dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những ngƣời làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nƣớc. Viên chức theo cách hiểu ở trên không đƣợc sử dụng nguyên nghĩa trong các VBQPPL có hiệu lực thấp hơn.
Tại Pháp lệnh Cán bộ, công chức ban hành năm 1998, cụm từ đƣợc sử dụng là “cán bộ, công chức”. Khi pháp lệnh đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2003, lần đầu tiên viên chức đƣợc tách riêng thành một nhóm, phân biệt với công chức. 9 Điểm d, điều 1 pháp lệnh quy định viên chức là “những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc đƣợc giao giữ một nhiệm vụ thƣờng xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”. Theo quy định này, viên chức là một nhóm nhỏ thuộc một tập hợp lớn hơn là cán bộ, công chức.
Hai đối tƣợng công chức và viên chức tiếp tục có sự thay đổi tại hai đạo luật mới ban hành là Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010. Đối tƣợng là công chức đƣợc liệt kê rõ ràng hơn tại Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ. Những ngƣời là lãnh đạo đơn vị sự nghiệp trƣớc đây là viên chức thì nay chuyển sang nhóm đối tƣợng là công chức. Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau cũng nhƣ các quy định hiện hành thì có thể khái quát nhƣ sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [18, Đ 2].
Từ định nghĩa này, viên chức bao gồm những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam. Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là ngƣời đƣợc đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm. Ngoài ra, theo Điều 20 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng nhƣ sau:“Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”.
Vị trí việc làm đƣợc hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”. Vị trí việc làm có thể 10 có một hoặc nhiều công việc, có tính thƣờng xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để đƣợc tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phƣơng thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển [18]. Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại Đơn vị sự nghiệp công lập.
Đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định đƣợc hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [5]. Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: - Đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc giao quyền tự chủ); - Đơn vị sự nghiệp công lập chƣa đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chƣa đƣợc giao quyền tự chủ). Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức đƣợc tính kể từ khi đƣợc tuyển dụng, Hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hƣu theo quy định của Bộ luật Lao động. Thứ năm, về chế độ lao động: viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lƣơng, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên. Lƣơng của viên chức đƣợc nhận từ quỹ của Đơn vị sự nghiệp công lập 11 nơi họ làm việc chứ không phải từ Nhà nƣớc. Do vậy, tiền lƣơng mà viên chức nhận đƣợc phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng, Nhà nƣớc hầu nhƣ không can thiệp vào vấn đề này.
Viên chức đơn vị sự nghiệp Đơn vị sự nghiệp là các đơn vị do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc. Cán bộ của đơn vị do nhà nƣớc tuyển dụng hay bổ nhiệm [5]. Những đặc điểm của đơn vị sự nghiêp: Do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập, có tƣ cách pháp nhân, có tài khoản, con dấu riêng, thực hiện chức năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật. Ví dụ các đơn vị nghiên cứu, sự nghiệp nghiên cứu khoa học kỹ thuật và giáo dục (bệnh viện, trƣờng, viện nghiên cứu).
Đối với các cơ quan quản lý các ngành sự nghiệp, những tổ chức này là những đơn vị cơ bản thực hiện nhiệm vụ của ngành. Cơ chế tài chính của cơ quan hành chính nhà nƣớc và đơn vị sự nghiệp công là cơ bản giống nhau, về kinh phí hành chính trong quá trình thực thi nhiệm vụ, về biên chế và tổ chức hoạt động, trong khi các đơn vị sự nghiệp công lập lại có những đặc điểm khác biệt với các cơ quan hành chính → vấn đề cải cách tách chức năng quản lý nhà nƣớc của cơ quan hành chính với cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp. Đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong cơ quan hành chính nhà nƣớc với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công từ trƣớc đến nay vẫn có cùng chế độ nhƣ nhau về tiền lƣơng, tiền thƣởng và các chế độ đãi ngộ khác, điều này không đúng với thực tế tình hình của cơ quan hành chính với đơn vị sự nghiệp công lập. Chính vì vậy vấn đề tách cơ quan hành chính nhà nƣớc với đơn vị 12 sự nghiệp công để đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của những cơ quan này, tách đơn vị sự nghiệp ở đây đƣợc hiểu là các đơn vị sự nghiệp công.
Nhƣ vậy Viên chức đơn vị sự nghiệp là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập và không bao gồm lãnh đạo của các đơn vị này. Viên chức đơn vị sự nghiệp NCKH Có thể nói rằng hiện nay có rất nhiều đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học ở cả trung ƣơng và địa phƣơng theo phân cấp thành lập và quản lý. Đa số các đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học hiện nay là do các cơ quan ở trung ƣơng thành lập, ở các địa phƣơng cũng có những đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND cấp tỉnh và các sở, do UBND cấp tỉnh hoặc các sở thành lập và quản lý, tuy nhiên chức năng nghiên cứu khoa học thƣờng hạn chế. Nhƣ vậy có thể nói Viên chức đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học là những công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các đơn vị nghiên cứu khoa học theo chế độ hợp đồng và hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của các đơn vị này, họ phải thực hiện những nhiệm vụ nhất định, đáp ứng những yêu cầu theo quy định về trình độ đào tạo, bồi dƣỡng, đáp ứng những yêu cầu tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ quy định.