phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì đề án đƣợc cấu trúc thành 03 chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động trong tổ chức. Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn - Hà Nội Chƣơng 3: Các đề xuất và kiến nghị 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm động lực Nghiên cứu động lực hoạt động của con ngƣời đã đƣợc thực hiện từ rất lâu trong lịch sử tâm lý học.
Bằng các cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, các nhà tâm lý học đã tìm cách lý giải tại sao con ngƣời có thể thực hiện đƣợc hành vi nào đó, tại sao hoạt động của anh ta có thể kéo dài trong một thời gian nhất định hoặc dừng lại đúng lúc… Theo từ điển Tiếng Việt (2013): Động lực đƣợc hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển. Nhà nghiên cứu Mitchell 1999 cho rằng: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lực chọn để gắn kết các hành vi của mình”. Theo Maier và Lawler (1975), động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân đƣợc kích thích bởi những công cụ phù hợp trong môi trƣờng tổ chức, doanh nghiệp. Trong mô hình về kết quả thực hiện công việc, các tác giả này đè xuất công thức: Kết quả công việc = khả năng x động lực.
Điều này cho thấy động lực tác động lớn đến kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Điều này lý giải tại sao có những cá nhân có năng lực, có khả năng làm việc nhƣng kết quả mang lại không cao. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng (2013), động lực là những nhân tố kích thích bên trong NLĐ để khiến họ nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), "Động lực là sự khao khát và tự nguyện của con người để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó".
Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (Đại học Thƣơng Mại) trong Giáo trình Quản trị nhân lực cơ bản (2016) thì cho rằng: “Động lực làm việc là những mong muốn, khát khao của NLĐ được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của cá nhân và tổ chức”. Nhƣ vậy, thông qua những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu: Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con ngƣời nhằm tăng cƣờng sự nỗ lực dễ đạt đƣợc mục đích hay một kết quả cụ thể (động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con ngƣời hành động. Khái niệm tạo động lực Mỗi ngƣời làm việc đều có những lý do khác nhau. NLĐ đều làm việc bởi họ có thể có đƣợc những thứ mà họ cần từ công việc.
Những thứ mà NLĐ dành đƣợc từ công việc có ảnh hƣởng tới tinh thần, nhuệ khí, động lực làm việc và chất lƣợng cuộc sống của họ. Điều mà Nhà quản lý cần làm là sử dụng các động lực để thúc đẩy mọi ngƣời thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả cho doanh nghiệp nơi họ làm việc. Một tổ chức muốn làm việc có hiệu quả và thành công thì cần phải kích thích và thỏa mãn đƣợc sự nỗ lực của mọi ngƣời đề đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả. Cũng theo tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng (2013) trƣờng đại học Kinh tế quốc dân cho rằng: "Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong làm việc".
Theo tác giả Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016) thì: “Tạo động lực làm việc là quá trình xây dựng, triển khai, thực hiện và đánh giá các chương trình biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của người lao động nhằm thúc đẩy họ làm việc nhằm đạt được các mục tiêu của cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp” Từ những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm Tạo động lực cho NLĐ là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích NLĐ làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc. Động lực làm việc là những chính sách, biện pháp, thủ thuật, cách ứng xử hay các hoạt động có tính chất khuyến khích, cổ động, động viên nhằm tác động vào nhu cầu của ngƣời lao động để tạo nên sự chuyển biến tích cực trong hành vi của họ hƣớng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn. Để ngƣời lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo và bật ra đƣợc mọi khả năng tiềm ẩn của mình, các nhà quản lý phải biết quan tâm, nghiên cứu các vấn đề, nhu cầu, mong muốn của họ và từ đó đề ra các biện pháp phù hợp nhƣ hỗ trợ, đáp ứng một phần hay đáp ứng hoàn toàn nhu cầu nào đó của ngƣời lao động. Để ngƣời lao động không chỉ yên tâm làm việc mà còn có động lực hoàn thành công việc với hiệu suất và chất lƣợng cao.
Nhƣ vậy, có thể coi vấn đề tạo động lực lao động là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Để có thể tạo động lực lao động cho NLĐ thì tổ chức phải xem xét đƣa ra chính sách thúc đẩy động lực làm việc của NLĐ, tạo ra môi trƣờng làm 9 việc, môi trƣờng giao tiếp nhƣ thế nào để NLĐ cảm thấy thoải mái nhất và có động lực lao động cao nhất. Tuy nhiên không phải tổ chức nào cũng có những giải pháp hoàn hảo cho tất cả những vấn đề này bởi nguồn lực có hạn. Do đó, tổ chức sẽ phải lựa chọn những vấn đề ƣu tiên nhất để giải quyết trƣớc.
Một số khái niệm liên quan * Khái niệm nhân viên: Nhân viên đều là các lao động làm công ăn lƣơng, họ thƣờng là các lao động trí thức, họ khác với các lao động phổ thông nhƣ công nhân, tá điền. Theo Từ điển mở Wiktionary: Nhân viên là ngƣời làm việc trong một cơ quan, tổ chức, phân biệt với thủ trƣởng cơ quan, tổ chức đó và là ngạch cán bộ thấp nhất. * Khái niệm động cơ: “Động cơ lao động của ngƣời lao động xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của ngƣời lao động nhƣ: nhu cầu ăn, ở, đi lại, phát triển, đƣợc tôn trọng. * Khái niệm thúc đẩy: Theo từ điển Việt - Việt: Thúc đẩy là kích thích, tạo điều kiện, động lực cho hoạt động phát triển mạnh hơn theo một hƣớng nhất định nào đó thƣờng là hƣớng tích cực.
* Khái niệm nhu cầu: “Nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” [2,88]. Nhu cầu của con ngƣời luôn luôn biến đổi. Mỗi ngƣời có những địa vị khác nhau trong xã hội lại có các nhu cầu khác Nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn tạo ra tâm lý căng thẳng, khiến con ngƣời phải tìm cách để đáp ứng. Ngƣời lao động cũng nhƣ vậy, họ bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn, mong muốn càng lớn thì nỗ lực càng cao.
* Khái niệm lợi ích: “Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra” [3,143]. Theo quan niệm trên thì lợi ích đƣợc hiểu là thành quả mà ngƣời lao động nhận đƣợc bằng vật chất hay tinh thần thông qua bản thân khi họ tham gia sản xuất hoặc các hoạt động khác trong tổ chức cũng nhƣ trong xã hội. Một số lý thuyết về tạo động lực 1. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (Maslow's hierarchy of needs) Nhà tâm lý học ngƣời Hoa Kỳ - Abraham Maslow cho rằng: con ngƣời nói chung có năm nhu cầu theo bậc thang từ thấp đến cao là: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu đƣợc ghi nhận và nhu cầu tự hoàn thiện.
Theo đó, những nhu cầu ở mức độ thấp sẽ phải đƣợc thỏa mãn trƣớc khi xuất hiện các nhu cầu ở mức độ cao hơn. Những nhu cầu này thúc đẩy con ngƣời thực hiện những 10 hành vi nhất định để đƣợc đáp ứng. Nhƣ vậy, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi đƣợc hành vi của con ngƣời. Dƣới đây là các biểu hiện tƣơng ứng với các cấp độ nhu cầu của NLĐ, cụ thể nhƣ sau: Hình 1.1: Hệ thống các nhu cầu của Maslow (Nguồn: Maslow, 1970) Theo Maslow: Sự thoả mãn nhu cầu của các cá nhân bắt đầu từ nhu cầu thấp nhất, các nhu cầu dƣới đƣợc thoả mãn thì nhu cầu trên mới xuất hiện.
Nhà quản lý muốn tạo động lực cho nhân viên của họ thì trƣớc hết nhà quản lý phải hiểu đƣợc nhân viên đó đang ở đâu trong hệ thống thứ bậc nhu cầu, từ đó có định hƣớng vào sự thoả mãn nhu cầu đó của họ để chính sách tạo động lực đạt đƣợc kết quả cao nhất. Học thuyết của Maslow đã khai thác tối đa các tiềm năng của ngƣời lao động và đi đến một kết luận rằng: động lực có nguồn gốc từ những nhu cầu cơ bản của con ngƣời, nếu những nhu cầu cơ bản này đƣợc thỏa mãn sẽ tạo ra động lực trong mỗi con ngƣời. Những nhu cầu cơ bản chi phối rất lớn tới hành vi của con ngƣời, tới thành quả của họ và tới hiệu quả chung của tổ chức. Lý thuyết động lực hai yếu tố của F.
Herzberg (Two-factor theory of motivation by F. Herzberg) Lý thuyết gia quản trị ngƣời Hoa Kỳ, ông Frederick Herzberg chia các yếu tố tạo động lực NLĐ thành hai loại: yếu tố duy trì - thuộc về sự thỏa mãn bên ngoài và yếu tố thúc đẩy - thỏa mãn bản chất bên trong. Nhóm thứ nhất chỉ có tác dụng duy trì trạng thái làm việc bình thƣờng. Mọi nhân viên đều mong muốn nhận đƣợc tiền 11 lƣơng tƣơng xứng với sức lực của họ, công ty đƣợc quản trị một cách hợp lý và điều kiện làm việc của họ đƣợc thoải mái.
Khi các yếu tố này đƣợc thỏa mãn, đôi khi họ coi đó là điều tất nhiên. Nhƣng nếu không có chúng, họ sẽ trở nên bất mãn và hiệu suất làm việc giảm sút.