Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc 1. Một số khái niệm liên quan 1.
Khái niệm người lao động Tại khoản 1, Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 định nghĩa: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Tại khoản 1, Điều 3 Bộ luật lao động 2019 quy định: Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Từ đó: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Khái niệm viên chức Theo Điều 2 - Luật Viên chức số 58/2010/QH12: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật 1.
Khái niệm giáo viên, giảng viên Theo Điều 70 của Luật giáo dục số 38/2005/QH11 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: - Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. - Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên. 6 Theo Khoản 23, Điều 1 Luật giáo dục số 44/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục số 38/2005/QH11 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đưa ra “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên”. Từ đó, giảng viên là người tham gia công tác giảng dạy tại trường đại học, cao đẳng và cao đẳng nghề.
Khái niệm nhu cầu và phân loại nhu cầu Theo giáo trình Hành Vi Tổ Chức: “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn”. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động, chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung và đến hành vi của con người nói riêng.
Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. + Phân loại nhu cầu Nhu cầu của người lao động được chia làm hai nhóm cơ bản là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu về vật chất là các nhu cầu gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người, còn nhu cầu về tinh thần là những nhu cầu gắn liền với sự hài lòng và thỏa mãn về tâm lý. Khái niệm động cơ Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu và tình cảm của họ - ThS.
Động cơ luôn gắn liền với nhu 7 cầu của con người và hoạt động của mỗi cá nhân là thoả mãn những nhu cầu đòi hỏi của bản thân mỗi cá nhân đó. Động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động của con người (Cộng đồng, tập thể, xã hội) là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng và thoả mãn các nhu cầu đặt ra - Trần Kim Dung (2021). Từ những định nghĩa được nêu trên, có thể rút ra được khái niệm ngắn gọn về động cơ: “Động cơ chính là những gì thúc đẩy con người hành động để đạt được những mục tiêu cụ thể, thỏa mãn những nhu cầu, kỳ vọng của họ” 1. Khái niệm động lực và tạo động lực + Động lực Có nhiều cách hiểu khác nhau về động lực tuy nhiên, trong nhiều tài liệu về quản lý nguồn nhân lực hay hành vi tổ chức, động lực được hiểu là sự khao khát và tự nguyện của con người nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó.
Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu có sự kế thừa các quan niệm đã có, tác giả đưa ra quan niệm về động lực như sau: động lực làm việc có thể được hiểu là lực đẩy bên trong xuất phát từ các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người thôi thúc họ tự nguyện, nỗ lực hoạt động nhằm hoàn thành mục tiêu đặt ra với kết quả tốt nhất, từ đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động của tổ chức.
+ Tạo động lực Để tạo cho nhân viên vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hay nói cách khác là nâng cao động lực.TS Lê Thanh Hà (2009), cho rằng: “Tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người lao động, khiến cho người lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao”. “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Mối quan hệ giữa nhu cầu, động cơ và động lực thúc đẩy người lao động Mọi cá nhân bình thường trong xã hội đều hành động theo nhu cầu (vật chất, tinh thần, tình cảm, tôn trọng, uy tín, tự thể hiện). Nhu cầu có mức độ theo cấp bậc từ thấp đến cao (A.
Việc hiểu biết về nhu cầu và các loại nhu cầu cho phép chúng ta có những nhận định sau: Nhu cầu là cơ sở tạo ra động lực, hiểu được nhu cầu và các cấp độ của nhu cầu, tìm kiếm giải pháp tạo ra và nâng cao động lực thúc đẩy người lao động làm việc thông qua các giải pháp thỏa mãn và kích thích nhu cầu. Nhu cầu bức thiết, không thỏa mãn là nguyên nhân tạo ra động cơ. Động cơ có đích là mục tiêu phấn đấu, đó là những lợi ích (giá trị nhận được) như: lợi ích vật chất (lương, thưởng, điều kiện làm việc.), tinh thần (quan tâm, khen thường, động viên.), chính trị (dân chủ, công bằng, địa vị, thăng tiến. Động cơ bị tác động bởi ý thức giai cấp, tính chất xã hội.
Đối với các nhà quản trị, một người có động cơ tốt sẽ làm việc một cách tích cực, duy trì được nhịp độ làm việc tích cực của mình, có hành vi tự định hướng vào các mục tiêu quan trọng. Động lực là tổng thể các yếu tố vật chất, tinh thần tác động tạo ra sức mạnh giúp khai thác mọi nguồn lực để thúc đẩy cá nhân, tổ chức, đơn vị phát triển. Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của 9 con người. Giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và để rút ngắn khoảng cách đó luôn phải có động lực thúc đẩy.
Động lực là tác nhân thúc đẩy động cơ hoạt động, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định. Động lực tác động không đúng trạng thái của động cơ sẽ giảm đi hiệu quả rất nhiều. Trong lao động, động lực là nhân tố thôi thúc người lao động thể hiện động cơ của mình. Nếu động lực tác động vào động cơ theo đúng hưởng, ví dụ tạo môi trưởng và điều kiện cho người lao động tự nâng cao thu nhập của mình bằng chính việc tăng năng suất lao động, sẽ có tác dụng kích thích rất tốt.
Động lực làm việc có vai trò rất quan trọng trong tăng hiệu suất làm việc của người lao động trong tổ chức. Nếu khi làm việc, người lao động bị ép buộc hoặc hoạt động một cách bị động chắc chắn năng suất và chất lượng công việc sẽ không cao. Mô hình của Marier và Lauler (1973), Carter, S. Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực lao động sẽ dẫn tới năng suất hiệu quả cao hơn.
Trong tất cả các nhân tố tạo ra hiệu suất làm việc thì động lực là nhân tố biến động, dễ bằng 0 nhất. Khi động lực làm việc bằng 0 thì một người dù có khả năng làm việc tốt và có đầy đủ nguồn lực cũng có thể không thực hiện được mục tiêu. Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi lợi ích chính là mức độ thoả mãn nhu cầu của con người còn nhu cầu lại là yếu tố quan trọng 10 nhất của tạo động lực lao động. Không có nhu cầu thì sẽ không có lợi ích hay nói cách khác thì lợi ích chính là hình thức biểu hiện của nhu cầu, khi có sự thoả mãn nhu cầu về vật chất hoặc nhu cầu về tinh thần nghĩa là con người nhận được lợi ích từ vật chất và tinh thần thì lúc đó động lực tạo ra sẽ càng lớn.
Vai trò của công tác tạo động lực cho người lao động 1. Đối với người lao động Con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Khi người lao động cảm thấy những nhu cầu của mình được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn.