phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tạo động lực cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3 : Thực trạng tạo động lực cho dịch thuật viên và cộng tác viên tại Công ty dịch thuật chuyên nghiệp số 1 chi nhánh Hà Nội. Chƣơng 4 : Giải pháp tạo động lực cho dịch thuật viên và cộng tác viên tại Công ty dịch thuật chuyên nghiệp số 1 chi nhánh Hà Nội 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài.
Tạo động lực làm việc cho nhân viên là một vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần đặc biệt quan tâm, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt và sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ nhƣ hiện nay. Do đó tính đến nay đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu đề cập đến vấn đề này ở các mức độ khác nhau. Tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài trên thế giới. - Có nhiều quan điểm khác nhau về tạo động lực đƣợc đƣa ra trong nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học.
Tiêu biểu có thể kể tới một số công trình nhƣ: - Boeve (2007) “Các nhân tố tạo động lực trong công việc của các giảng viên khoa đào tạo bác sĩ ở các trƣờng y tại Mỹ”. Boeve đã tiến hành cuộc nghiên cứu các nhân tố tạo động lực trong công việc của các giảng viên khoa đào tạo bác sĩ ở các trƣờng y tại Mỹ trên cơ sở sử dụng lý thuyết hai nhân tố của Herzberg và chỉ số mô tả công việc của Smith, Kendall & Hulin. Theo đó các nhân tố tạo động lực trong công việc đƣợc chia làm hai nhóm đó là: Nhóm nhân tố nội tại gồm bản chất công việc và cơ hội đào tạo và thăng tiến, nhóm nhân tố bên ngoài gồm lƣơng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp. Mục đích của nghiên cứu này là kiểm định tính đúng đắn của cả hai lý thuyết trên.
Trong nghiên cứu của Boeve, các thống kê mang tính định lƣợng đã đƣợc áp dụng nhƣ hệ số Cronbach’s Alpha, hệ số tƣơng quan Spearman và hồi quy tuyến tính. Kết quả phân tích năm nhân tố trong thang đo JDI đối với cácnhân tố tạo động lực trong công việc nói chung đã cho thấy nhân tố bản chất công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp và cơ hội phát triển là có tƣơng quan mạnh nhất với yếu tố tạo động lực trong công việc trong khi đó sự hỗ trợ của cấp trên và lƣơng bổng có tƣơng quan 5 z yếu đối với yếu tố tạo động lực trong công việc của các giảng viên. Phân tích hồi quy cho thấy ngoài bốn nhân tố là bản chất công việc, mối quan hệ với đồng nghiệp, cơ hội phát triển và lãnh đạo thì thời gian công tác cũng ảnh hƣởng đến việc tạo động lực trong công việc (thời gian công tác càng lâu năm thì mức độ động lực càng lớn). Trong các nhân tố ảnh hƣởng đến cácviệc tạo động lực trong công việc thì nhân tố bản chất công việc có mức độ ảnh hƣởng đến việc tạo động lực lớn nhất.
Boeve cũng đã kiểm định tính đúng đắn lý thuyết của Herzberg và chỉ số mô tả công việc của Smith, Kendall & Hulin [6 - trang 17]. Nhƣng công trình chỉ mang tính chất nghiên cứu , kiểm định lý thuyết chứ chƣa ứng dụng vào việc lựa chọn ra giải pháp phù hợp cho việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực cụ thể. - Mbindyio (2009), “Phát triển bộ công cụ đo lƣờng động lực làm việc của nhân viên y tế tại các bệnh viện tại Kenya năm 2009”. Nghiên cứu của Mbindyio (2009) và cộng sự muốn đánh giá động lực làm việc của các nhân viên y tế làm việc tại tám bệnh viện ở tám quận tại Kenya.
Tuy nhiên, do thiếu một công cụ đánh giá có giá trị và độ tin cậy nên nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu phát triển bộ công cụ đo lƣờng động lực làm việc của nhân viên y tế tại các bệnh viện tại Kenya năm 2009. Một bộ câu hỏi bao gồm 10 câu hỏi đƣợc so sánh giá trị và độ tin cậy với bộ câu hỏi ban đầu gồm 23 câu sử dụng nhƣ là một công cụ đơn giản để đánh giá động lực làm việc của 684 nhân viên y tế làm việc tại các bệnh viện ở Kenya. Đồng thời nghiên cứu định tính để đánh giá sự phù hợp của từng câu hỏi đƣợc chọn và giá trị của bộ công cụ đo lƣờng. Kết quả là bộ công cụ gồm 10 mục có giá trị đo lƣờng sự thay đổi động lực làm việc theo thời gian đốivới các nhân viên y tế tại Kenya.
Nghiên cứu của Lambrou P. (2010) đã tiến hành đánh giá những yếu tố động lực làm việc ảnh hƣởng đến các bác sĩ và y tế tại bệnh viện Nicosia tại Cyprus, đồng thời xác định mối liên quan giữa động lực làm việc và sự hài lòng đối với công việc. Nghiên cứu sử dụng công cụ đo lƣờng động lực làm việc dựa trên phƣơng pháp Maslow và Herzberg, những cộng cụ này đã đƣợc sử dụng trong nghiên cứu trƣớc đó. Bộ câu hỏi bao gồm 19 mục với 4 nhóm yếu tố động lực 6 z làm việc.
Các yếu tố đó bao gồm: Đặc tính công việc; Tiền lƣơng; Đồng nghiệp; Thành tích đạt đƣợc. Kết quả của nghiên cứu cho thấy tiền lƣơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ, khu vực làm việc trong bệnh viện, bác sĩ nữ với y tá nữ và bác sĩ cấp cứu có số điểm hài lòng về tiền lƣơng cao hơn (p < 0,005). Bác sĩ có mức độ hài lòng về công việc thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với y tá, điều dƣỡng. Điều dƣỡng trong vai trò phẫu thuật và những ngƣời trên 55 tuổi có điểm hài lòng về công việc cao hơn những đối tƣợng khác.
Nhƣ vậy nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại trong lĩnh vực y khoa, không có khả năng áp dụng vào các lĩnh vực hoạt động khác, do đặc thù hoạt động bệnh viện có đối tƣợng kinh doanh đặc biệt – bệnh nhân, kinh doanh dịch vụ nhân đạo, khám chữa bệnh. - Simons & Enz (1995) , “Phân tích các yếu tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên khách sạn tại Mỹ và Canada” Simons & Enz cũng dựa trên mô hình mƣời yếu tố tạo động viên của Kovach để làm cơ sở điều tra ban đầu, nghiên cứu tiến hành khảo sát 278 nhân viên của mƣời khách sạn khác nhau tại Mỹ và Canada. Ngƣời trả lời xếp hạng những gì nhân viên thấy tác động nhất đến động lực làm việc của họ theo thứ tự từ 1 đến 10, với 1 là quan trọng nhất và 10 là ít quan trọng nhất, đồng thời thu thập các thông tin cá nhân nhƣ giới tính, độ tuổi, bộ phân công tác để phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy Các nhân tố có mức độ ảnh hƣởng cao hơn mứcảnh hƣởng chung trong công tác tạo động lực làm việc của nhân viên của mƣời khách sạn khác nhau tại Mỹ và Canada là: Văn hóa doanh nghiệp , Mối quan hệ với đồng nghiệp , Đƣợc công nhận đầy đủ công việc đã làm.
Các nhân tố có mức độ ảnh hƣởng thấp hơn mức ảnh hƣởng chung trong công tác tạo động lực là: Công việc ổn định, Sự thăng tiến và phát triển nghề nghiệp. Brooks (2007) “Phân tích các yếu tố tác động đến động lực làm việc của ngƣời lao động tại Mỹ” 7 z Nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu bằng cách phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi gồm 53 biến quan sát đối với 181 ngƣời làm các công việc khác nhau trên khắp nƣớc Mỹ. Tác giả đã đề xuất mô hình sau: Hình 1.1 : Mô hình nghiên cứu cảu Abby M. Brooks Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc kết hợp giữa hai yếu tố thiết lập mục tiêu và sự hài lòng trong công việc là cách tốt nhất để dự đoán động lực làm việc của nhân viên; các yếu tố ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự hài lòng của nhân viên bao gồm: đánh giá hiệu quả công việc, đào tạo, cấp trên, đóng góp vào tổ chức.
- Teck-Hong và Waheed (2011), “Phân tích các nhân tố tác động đến động lực làm việc của nhân viên bán hàng tại Malaysia” Trong nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011) dựa trên lý thuyết hai nhân tố của Herzberg, hai tác giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực làm việc để tiến hành cuộc khảo sát với nhân viên bán hàng tại Malaysia. Kết quả các phân tích đã chứng minh rằng biến động lực quan trọng nhất là điều kiện làm việc. Sự công nhận là yếu tố đáng kể thứ hai, tiếp theo chính sách công ty và các yếu tố tài chính. Các bằng chứng kết luận rằng các nhân tố duy trì hiệu quả hơn nhân tố động viên trong việc tạo động lực cho nhân viên bán hàng.2: Mô hình nghiên cứu của Teck-Hong và Waheed (2011) 1.
Tổng quan các chƣơng trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài trong nƣớc. Ở Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu gắn với vấn đề tạo động lực này, điển hình nhƣ: Báo cáo khoa học cấp Nhà nƣớc: - Báo cáo khoa học Đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nƣớc KX-07-13 (1991 – 1995) do GS. Lê Hữu Tầng (1996) làm chủ nhiệm “Vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò động lực của con ngƣời trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội”. Nghiên cứu đã trình bày một số vấn đề lý luận về động lực (khái niệm “động lực”; nhu cầu lợi ích), một số động lực chính trị - tinh thần quan trọng (công bằng xã hội, dân chủ, văn hóa, tâm lý – xã hội…) và vấn đề sử dụng đúng đắn tính tích cực của con ngƣời trong sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tác giả chú trọng đến những yếu tố tạo động lực làm việc của con ngƣời nhƣ lợi ích, nhu cầu. Sự phân phối theo lao động tạo ra động lực làm việc to lớn cho ngƣời lao động. Các yếu tố 9 z nhƣ dân chủ, môi trƣờng tâm lý xã hội, niềm tin, khoa học và văn hóa cũng tác động nhƣ những động lực chính trị, tinh thần trong xã hội.