Chương 1: Cơ sở lý thực tiễn về công tác tạo động luận về công tác tạo Tháng Tháng lực làm việc cho người lao 1 động lực làm việc cho 5/2022 6/2022 động người lao động Chương 2: Phân tích - Phân tích đánh giá thực trạng thực trạng công tác tạo công tác tạo động lực làm việc động lực làm việc cho cho tiếp viên hàng không tại Tháng Tháng 2 tiếp viên hàng không đoàn tiếp viên phía Bắc, 7/2022 8/2022 tại đoàn tiếp viên phía Vietnam Airlines - Đánh giá Bắc, Vietnam Airlines. thành tựu đạt được, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân. Chương 3: Định hướng - Đánh giá các yếu tố tác động, và giải pháp hoàn thiện đưa ra định hướng hoàn thiện, công tác tạo động lực nâng cao chất lượng công tác Tháng Tháng 3 làm việc cho tiếp viên tạo động lực làm việc cho tiếp 9/2022 10/2022 hàng không tại đoàn viên hàng không tại đoàn tiếp tiếp viên phía Bắc, viên phía Bắc, Vietnam Vietnam Airlines.; Đưa ra các giải pháp, 6 nhiệm vụ trọng tâm để hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho tiếp viên hàng không tại đoàn tiếp viên phía Bắc, Vietnam Airlines. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
Cơ sở l luận về động lực và tạo động lực làm việc 1. Nhu cầu Con người chúng ta ai cũng có nhu cầu và chúng ta thực hiện bất cứ một hoạt động nào đều nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vậy nhu cầu là gì? Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt.
Trong phạm vi nhận thức hiện tại, nhu cầu là sự thiếu hụt một cái gì đó mà con người có thể cảm nhận được. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao.
Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân. Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Con người có rất nhiều nhu cầu như: nhu cầu sinh lý (ăn uống, nghỉ ngơi), nhu cầu lao động (việc làm.), nhu cầu giao tiếp (các mối quan hệ xã hội.), nhu cầu yêu thương và được yêu thương (tình cảm gia đình, tình anh em, tình bạn bè, tình đồng nghiệp,.), nhu cầu được kính trọng (uy tín, địa vị xã hội,.), nhu cầu thẩm mỹ (làm đẹp,. Về cơ bản nó được chia làm 2 nhóm chính: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Nhu cầu vật chất là nhu cầu cần sự thỏa mãn trước tiên, đảm bảo cho con người có thể tồn tại. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu vật chất của con người ngày càng 7 tăng lên về số lượng và chất lượng. Việc thỏa mãn nhu cầu vật chất phụ thuộc vào thù lao tài chính mà người lao động nhận được. Thù lao tài chính càng cao thì mức thỏa mãn các nhu cầu vật chất càng cao.
Và khi nhu cầu vật chất được thỏa mãn thì một số nhu cầu về tinh thần cũng được thỏa mãn như được tôn trọng hơn, có khả năng hưởng thụ các dịch vụ văn hóa nhiều hơn. Nhu cầu tinh thần của con người cũng rất phong phú, nó đòi hỏi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra trạng thái tâm lý thoải mái trong quá trình lao động. Nhu cầu tinh thần thường được nảy sinh khi các nhu cầu về vật chất đảm bảo cho con người tồn tại đã được thỏa mãn. Nhu cầu tinh thần là những nhu cầu làm cho đời sống tinh thần của con người phong phú hơn.
Ngày nay, khi các nhu cầu vật chất được thỏa mãn thì nhu cầu tinh thần đóng một vai trò vô cùng quan trọng để người lao động nỗ lực thực hiện công việc. Nhu cầu của con người hầu như không bao giờ có điểm dừng. Con người thường đặt cho mình những mục tiêu và nỗ lực để thực hiện các mục tiêu này. Các mục tiêu đó cũng chính là những nhu cầu của con người cần thỏa mãn.
Khi mục tiêu này đã đạt được, con người sẽ có xu hướng đặt các mục tiêu khác, các mục tiêu sau bao giờ cũng cao hơn mục tiêu trước. Mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc tạo ra đó là lợi ích mà người lao động nhận được. Lợi ích Lợi ích là kết quả mà con người nhận được khi tham gia các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Lợi ích chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà mỗi cá nhân nhận được từ tổ chức.
Như vậy, có thể hiểu “Lợi ích là mức độ thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định”. Lợi ích của họ mới là động lực trực tiếp thúc đẩy họ làm việc đạt hiệu quả cao. Nó tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con người, nó buộc con người phải động não, cân nhắc, tìm tòi các phương thức thực hiện có hiệu quả nhất các mục tiêu, thỏa mãn nhu cầu của mình. Khi lợi ích thỏa mãn các nhu cầu của con người thì con người càng có động lực lao động và ngược lại.
8 Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không có nhu cầu thì không thể thoả mãn nhu cầu và lợi ích cũng không xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện con người sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt được. Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chưa được rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con người hành động để rút ngắn khoảng cách đó.
Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất. Động lực lao động Động lực lao động là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu, là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Theo giáo trình “Quản trị nhân lực” của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS.Nguyễn Vân Điềm thì động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động.
Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất.
Động lực lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động. Để người lao động làm việc đạt hiệu quả cao thì các nhà quản lý phải làm sao tạo ra được động lực cho họ. Động lực lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Các nhân tố này được chia thành ba nhân tố cơ bản: 9 + Các yếu tố thuộc về con người: là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người, thúc đẩy con người làm việc.
Nó bao gồm: lợi ích của cá nhân, mục tiêu của cá nhân, thái độ của cá nhân, khả năng năng lực cá nhân; thâm niên, kinh nghiệm công tác,. + Các nhân tố thuộc về môi trường: là những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến người lao động. Nó bao gồm các nhân tố: văn hóa doanh nghiệp, các chính sách về nhân sự,. + Các yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc là yếu tố chính ảnh hưởng đến thù lao lao động và mức tiền lương của người lao động, bao gồm các yếu tố: tính ổn định và mức độ tự chủ của công việc; mức độ khác nhau về nhiệm vụ và trách nhiệm; sự phức tạp của công việc; sự hấp dẫn và thích thú.
Như vậy, động lực lao động thường xuất phát từ các nhu cầu, khi con người có nhu cầu thỏa mãn thì đó chính là động lực thúc đẩy con người hoạt động. Động lực lao động gắn liền với một công việc, một tổ chức, một môi trường làm việc cụ thể và một cá nhân cụ thể. Nó luôn thay đổi. Trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau thì động lực lao động của người lao động là khác nhau.
Động lực lao động mang tính tự nguyện, xuất phát từ sự mong muốn cống hiến, mong muốn làm việc của người lao động. Động lực lao động là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Nếu người lao động có động lực lao động, họ sẽ hoàn thành công việc tốt và ngược lại. Trong tổ chức, mỗi lao động ở những vị trí khác nhau họ sẽ có nhu cầu, lợi ích và động lực lao động khác nhau.
Do đó nhà quản trị cần có cách tác động phù hợp với từng đối tượng lao động để tạo được động lực cho họ. Tạo động lực lao động Tạo động lực là những kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu đã định. Tạo động lực lao động là quá trình đưa ra và áp dụng các giải pháp thích hợp, tạo ra các điều kiện cần thiết, thuận lợi nhằm kích thích người lao động tự phát huy sở trường, năng lực, dần lôi cuốn họ vào công việc để hoàn thành nhiệm vụ. Thúc đẩy họ hài lòng với công việc, tiến tới sự thỏa mãn trong lao động và mong muốn đóng góp cho tổ chức.
Khi tạo được động lực cho người lao động, họ sẽ làm tìm mọi cách khắc 10 phục những khó khăn để hoàn thành công việc.