CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Khái niệm tạo động lực đối với người lao động 1.1 Khái niệm động lực lao động Trong giai đoan hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức. Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm việc nâng cao năng suất lao động. Có nhiều những quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhưng đều có những điểm chung cơ bản nhất.
Theo giáo trình QTNL của ThS.Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, 2014, tr 201 “Động lực là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố tác động đến con người trong lao động” Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn, 2003, tr 103 “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức.
Bản chất của động lực lao động. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. điều này có nghĩa không có động lực lao động chung cho mọi lao động. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn.
Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính 7 cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động chưa chắc đã còn trong họ. Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc.
Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được năng suất lao động tốt nhất. Động lực lao động đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các điều kiện đầu vào khác không đổi. Động lực lao động như một sức mạnh vô hình từ bên trong con người thúc đẩy họ lao động hăng say hơn. Tuy nhiên động lực lao động chỉ là nguồn gốc để tăng năng suất lao động chứ không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động bởi vì điều này còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng của người lao động, vào trình độ khoa học công nghệ của dây chuyền sản xuất.2 Khái niệm tạo động lực đối với người lao động Để có được động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra được động lực đó.
Như vậy “Tạo động lực đối với người lao động là hệ thống các chính sách, các biện pháp các thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có được động lực để làm việc”. Để có thể tạo được động lực đói với người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ tạo động lực cho lao động. Hệ thống các mục tiêu chính của người lao động Mục tiêu thu nhập đây là mục tiêu quan trọng nhất khiến người lao động làm việc bởi vì thu nhập giúp người lao động trang trải cuộc sống của bản thân họ và gia đình, đảm bảo cho sự sống và phát triển. Mục tiêu phát triển cá nhân: đây là mục tiêu mà người lao động mong muốn tự làm hoàn thiện mình thông qua các hoạt động đào tạo, phát triển, các hoạt động văn hóa xã hội.
Mục tiêu này được nâng cao, chú trọng hơn khi người lao động đã có đủ thu nhập để đảm bảo cuộc sống. Mục tiêu thỏa mãn các hoạt động xã hội là nhu cầu được tham gia vao các hoạt động xã hội để tự khẳng định mình. Khi hai mục tiêu trên đã được đáp ứng nhu 8 cầu thỏa mãn các hoạt động xã hội được người lao động chú trọng quan tâm hơn. Như vậy tạo động lực đối với người lao động chính là sử dụng những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của mình.
Tác giả của luận văn hoàn toàn đồng tình với các tác giả Nguyễn Vân Điểm và Nguyễn Ngọc Quân “Tạo động lực trong lao động là việc xây dựng, thực thi các biện pháp, giải pháp, khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật. thông qua các đòn bẩy về kích thích vật chất và tinh thần” (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2014).3 Các yếu tố tạo động lực trong lao động: Các yếu tố thuộc về bản thân người lao động: Hệ thống nhu cầu của người lao động: Nhu cầu về vật chất là những nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo cuộc sống của mỗi con người như là ăn, mặc, đi lại, chỗ ở… đây là nhu cầu chính và cũng là động lực chính khiến người lao động phải làm việc. Cuộc sống ngày càng được nâng cao nhu cầu của con người cũng thay đổi chuyển dần từ nhu cầu về số lượng sang nhu cầu về chất lượng. Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu đòi hỏi con người đáp ứng được nhưng điều kiện để tồn tại và phát triển về mặt trí lực.
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao nó bao gồm: - Nhu cầu học tập để nâng cao trình độ. - Nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội - Nhu cầu công bằng xã hội. Nhu cầu vật chất và tình thân của con người có quan hệ biện chứng với nhau điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ vật chất – ý thức. Đây là hai nhu cầu chính và cũng là cơ sở để thực hiện tạo động lực cho người lao động.
Các giá trị về thuộc tính cá nhân người lao động: - Năng lực thực tế của người lao động: là tất cả những kiến thức, kinh nghiệm mà người lao động đã đúc kết được trong suốt quá trình học tập và lao động. Mỗi người lao động có những khả năng riêng nên động lực khiến họ làm việc tích cực hơn cũng khác nhau, khi họ có đầy đủ điều kiện để phát huy khả năng của 9 mình thì động lực lao động sẽ tăng lên. - Tính cách cá nhân của mỗi người lao động: đây là yếu tố cá nhân bên trong của mỗi con người và được thể hiện qua quan điểm của họ trước một sự việc, sự kiện nào đó. Quan điểm của người lao động có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực do vậy tạo động lực cho người lao động còn chịu một phần ảnh hưởng từ tính cách của họ.
Các yếu bên trong công việc: Các yêu tố phụ thuộc vào bản chất công việc mà người lao động đang làm: Đó là sự phù hợp giữa khả năng làm việc với trình độ của người lao động, khi người lao động cảm thấy công việc mà mình đang làm là phù hợp với mình thì họ sẽ tích cực lao động để đạt được mục tiêu của mình và ngược lại khi công việc không phù hợp người lao động dễ dẫn đến tình trạng chán nản không tập trung vào công việc. Các yêu tố thuộc môi trường quản lý: Tất cả những công tác quản lý trong tổ chức để có ảnh hưởng nhất định tới động lực làm việc của người lao động, cụ thể: - Điều kiện về chế độ thời gian lao động: Đây là yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ tới động lực lao động, khi điều kiện lao động thuận lợi, môi trường làm việc an toàn, vệ sinh người lao động sẽ yêu thích công việc hơn, làm việc tốt hơn. - Tổ chức phục vụ nơi làm việc: là sự sắp xếp, bố trí công việc phục vụ cho người lao động đảm bảo môi trường làm việc tốt nhất để người lao động phát huy một cách tối đa mọi khả năng của bản thân. Tạo mọi điều kiện để quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, nhịp nhàng.
- Thù lao lao động: là số tiền mà tổ chức trả cho người lao động vì những gì mà họ đã phục vụ khi người lao động cảm thấy thu nhập họ nhận được là tương xứng với công sức họ bỏ ra thì người lao động sẽ có động lực để làm việc phục vụ tổ chức. Thù lao lao động không công bằng sẽ có ảnh hưởng xấu tới động lực lao động vì khi đó họ cho rằng mình đang bị đối xử không công bằng. Vì vậy người quản lý cần phải thực hiện công tác thù lao lao động một cách hợp lý nhất tạo tâm lý thoải mái và tinh thần đoàn kết tập thể. - Đánh giá kết quả làm việc: là một hoạt động quản lý nguồn nhân lực quan trọng và luôn luôn tồn tại trong mọi tổ chức.
Hoạt động đánh giá kết quả làm việc 10 xác định mức lao động mà người lao động đã thực hiện để xét các mức khen thưởng hoặc kỷ luật đồng thời qua công tác đánh giá cũng xem xét được năng lực, thành tích và triển vọng của từng lao động từ đó đưa ra các quyết định nhận sự có liên quan. Kết quả đánh giá cũng có ảnh hưởng đến tâm lý tình cảm của từng người nên nếu đánh giá không chính xác có thể dẫn đến hậu quả không mong muốn. - Kỷ luật lao động: là nhưng tiêu chuẩn quy định những hành vi cá nhân của người lao động mà tổ chức xây dựng lên dựa trên cơ sở pháp lý hiện hành và các chuẩn mực đạo đức xã hội. Khi thực hiện kỷ luật lao động người quản lý nên tránh tình trạng xử lý mang tính cá nhân gây bất bình cho người lao động.