Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty cổ phần Xây dựng số 9 Thăng Long Chương 4: Một số giải pháp tạo động lực cho người lao động tại Công ty cổ phần Xây dựng số 9 Thăng Long 3 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Động lực Bất kỳ một tổ chức, doanh nghiệp nào cũng mong muốn ngƣời lao động của mình hoàn thành công việc với hiệu quả cao để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, trong tập thể lao động luôn có những ngƣời lao động làm việc hăng say nhiêt tình, có kết quả thực hiện công việc cao, nhƣng đồng thời cũng có những ngƣời lao động làm việc trong trạng thái uể oải, thờ ơ, thiếu hứng thú trong công việc dẫn đến kết quả thực hiện công việc thấp. Các nhà kinh tế học đã nghiên cứu và chỉ ra câu trả lời cho vấn đề trên, đó là do động lực lao động của bản thân ngƣời lao động.
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về bản chất động lực lao động. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của PGS. Nguyễn Ngọc Quân - ThS.Nguyễn Vân Điềm [7, tr 128]: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn [16, tr 151]: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của bản thân ngƣời lao động”. Maier và Lawler (1973) đã đƣa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân nhƣ sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng + Động lực Trong đó, Khả năng làm việc phụ thuộc vào năng lực bẩm sinh, kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm có đƣợc thông qua đào tạo, các nguồn lực để thực hiện công việc; Động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân. 4 z Theo Kreitner (1995), động lực là một quá trình tâm lí mà nó định hƣớng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn.
Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt đƣợc mục tiêu. Những khái niệm trên đây tuy có khác nhau nhƣng đều thể hiện đƣợc bản chất của tạo động lực gồm những điểm nhƣ sau: Động lực lao động luôn gắn liền với một công việc cụ thể, một tổ chức, một môi trƣờng làm việc cụ thể, không tồn tại động lực chung chung không gắn với một công việc cụ thể nào. Nhƣ vậy phải hiểu rõ về công việc và môi trƣờng làm việc thì mới có thể đƣa ra biện pháp tạo động lực cho ngƣời lao động Động lực lao động luôn mang tính tự nguyện. Nếu bị ép buộc hoặc làm việc một cách bị động chắc chắn kết quả công việc sẽ kém và chất lƣợng công việc sẽ không cao.
Vì vậy nhà quản lý phải có nghệ thuật để tăng cƣờng tính tự giác, tự nguyện của ngƣời lao động để tạo ra động lực lao động nhằm thu đƣợc kết quả thực hiện công việc thật tốt và có khi ngoài mong đợi Đông lực lao động không phải là đặc tính cá nhân. Con ngƣời khi sinh ra không ai đã có sẵn tính cách này, nó cũng không phải là cái cố hữu mà thƣờng xuyên thay đổi. Tuỳ từng giai đoạn mà mỗi ngƣời có thể có động lực lao động rất cao hoặc động lực chƣa chắc đã tồn tại. Từ các quan điểm ở trên, theo tác giả có thể hiểu: Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức.
Tạo động lực Tạo động lực lao độnglà hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật… nhất định để kích thích ngƣời lao động làm việc một cách tự nguyện, hăng say, nhiệt tình và có hiệu quả hơn trong công việc. Đây chính là tất cả các hoạt động, các biện pháp của tổ chức, doanh nghiệp thực hiện đối với ngƣời lao động của mình nhằm làm cho họ có động lực trong công việc. (Nguồn: GT Hành vi tổ chức – PGS.TS Bùi Anh Tuấn, năm 2003). 5 z Tạo động lực cho ngƣời lao động vừa là mục tiêu, vừa là trách nhiệm của nhà quản lý, khi ngƣời lao động có động lực làm việc thì họ sẽ làm việc một cách tốt nhất, nâng cao năng suất lao động, từ đó góp phần đạt đƣợc mục tiêu của doanh nghiệp.
Tạo động lực, hiểu một cách cụ thể chính là việc tạo ra sự hấp dẫn trong công việc, tiền lƣơng, tiền thƣởng, điều kiện làm việc, mối quan hệ trong công việc… đây chính là những lợi ích mà ngƣời lao động đƣợc hƣởng sau khi họ hoàn thành công việc. Khi sự hấp dẫn càng lớn, lợi ích càng lớn thì động lực lao động để ngƣời lao động làm việc càng cao, họ càng tích cực và hăng hái làm việc để đạt đƣợc những lợi ích đó. Vì vậy, nhà lãnh đạo nói chung và ngƣời quản lý lao động nói riêng cần phải nắm bắt đƣợc các nhu cầu của ngƣời lao động để đƣa ra những lợi ích một cách hợp lý để thỏa mãn nhu cầu của họ, từ đó tạo động lực để ngƣời lao động làm việc một cách hiệu quả nhất. Các nhân tố ảnh hƣởng tới tạo động lực 1.
Các nhân tố thuộc về bản thân người lao động Đây là các nhân tố xuất phát từ chính bản thân ngƣời lao động và là động cơ thôi thúc họ làm việc, thực hiện những mục đích, mong muốn, những nhu cầu của mình. Nhóm nhân tố này bao gồm: Mục tiêu cá nhân:Đây là cái đích mà mỗi ngƣời muốn đạt đƣợc, nó định hƣớng cho họ phải làm gì và làm nhƣ thế nào để có thể đạt đƣợc các mục tiêu đó, đồng thời nó cũng tạo ra động lực để thúc đẩy cá nhân cố gắng nỗ lực để theo đuổi mục tiêu, mặt khác họ còn phải có trách nhiệm làm việc để đạt đƣợc mục tiêu chung của tổ chức. Trong thực tế, nhiều khi mục tiêu của các nhân và mục tiêu của tổ chức mâu thuẫn với nhau, nếu hai mục tiêu này không có sự dung hòa với nhau thì sẽ không đạt đƣợc mục tiêu của mỗi bên đề ra. Vì vậy, nhiệm vụ ngƣời lãnh đạo tổ chức, doanh nghiệp là phải biết làm thế nào để hƣớng cấp dƣới đặt ra các mục tiêu cá nhân theo kỳ vọng của tổ chức, làm sao để họ hiểu đƣợc việc thực hiện đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng là để đạt đƣợc mục tiêu của cá nhân.
6 z Hệ thống nhu cầu cá nhân:Mỗi con ngƣời đều có những nhu cầu riêng của mình, nhƣng về cơ bản thì con ngƣời đều có hai loại nhu cầu, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu về vật chất là những đòi hỏi về điều kiện vật chất cần thiết để con ngƣời có thể tồn tại và phát triển đƣợc về mặt thể lực. Nhu cầu về tinh thần là những đòi hỏi về điều kiện để cá nhân có thể tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Khi tham gia vào làm việc trong một tổ chức nào đó, ngƣời lao động đều có mong muốn đƣợc thỏa mãn hai loại nhu cầu trên, nếu công việc của họ đảm nhận giúp cho họ thỏa mãn các nhu cầu cá nhân thì họ sẽ làm việc hăng say, nhiệt tình, gắn bó lâu dài với tổ chức; nhƣng ngƣợc lại khi nhu cầu không đƣợc thỏa mãn thì họ sẽ không có động lực phấn đấu để làm việc và họ có xu hƣớng tìm tổ chức khác làm việc để đạt đƣợc các nhu cấu cá nhân của mình.
Nhƣ vậy, nhiệm vụ của nhà quản lý là phải nắm bắt đƣợc những nhu cầu của ngƣời lao động để từ đó tạo ra cho họ động lực làm việc hiệu quả. Đặc điểm cá nhân người lao động: Giới tính, tâm lý, tuổi, tôn giáo, địa vị. đều có ảnh hƣởng tới hành vi của ngƣời lao động, sự khác nhau giữa các đặc điểm của cá nhân sẽ dẫn đến động lực làm việc khác nhau. Chẳng hạn nhƣ sự khác biệt giữa nam và nữ, đa số nam giới thƣờng thể hiện sự cạnh tranh, sự năng động, thích tìm tòi sáng tạo và thể lực tốt trong công việc nhƣng hay cẩu thả, nóng vội và thiếu kiên trì trong công việc; trái lại, đa phần nữ giới thƣờng cẩn thận, cần cù, có sức chịu đựng và tính kiên trì cao nhƣng lại dễ an phận, không thích di chuyển và thay đổi trong công việc… Sự khác nhau về độ tuổi cũng ảnh hƣởng tới động lực làm việc của họ; ngƣời trẻ tuổi thƣờng năng động sáng tạo, ham học hỏi, thích mạo hiểm nhƣng đôi khi ra quyết định không sáng suốt dẫn tới thất bại; ngƣời lớn tuổi thƣờng hay bảo thủ, không thích thay đổi nhƣng lại giàu kinh nghiệm nên thận trọng hơn trong công việc.
Nhƣ vậy, ngƣời quản lý phải nhìn nhận chính xác các đặc điểm tâm lý của từng cá nhân để tạo cho họ động lực trong công việc. Khả năng và kinh nghiệm làm việc:Khả năng là những thuộc tính cá nhân giúp con ngƣời có thể lĩnh hội một công việc, một kỹ năng hay một loại kiến thức nào đó đƣợc dễ dàng và khi họ đƣợc hoạt động ở lĩnh vực đó thì khả năng của họ sẽ 7 z đƣợc phát huy tối đa và kết quả thu đƣợc sẽ cao hơn những ngƣời khác. Kinh nghiệm làm việc biểu hiện số lần lao động lặp lại ở những công việc đƣợc giao theo thời gian, độ lớn của kinh nghiệm tỷ lệ thuận với mức độ lặp lại các hoạt động trong công việc mà họ đã trải qua, những ngƣời càng có nhiều kinh nghiệm thì sự chín chắn trong công việc càng lớn và năng suất lao động sẽ cao hơn. Chính vì điều này nên khi bố trí và phân công công việc nhà quản lý cần phải giúp cho ngƣời lao động phát huy đƣợc tối đa khả năng và kinh nghiệm làm việc của họ.