Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm người lao động Tại Việt Nam, theo Khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012 định nghĩa rằng: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo HĐLĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng LĐ” [10]. Người lao động có thể là người: LĐ phổ thông, LĐ chân tay (có tay nghề hoặc không có tay nghề): Công nhân, thợ, nông dân làm thuê (tá điền), người giúp việc,.hoặc LĐ trí óc (LĐ văn phòng): Nhân viên (công chức, cán bộ, chuyên gia,.
Tuy nhiên, kể từ ngày 20/11/2019 Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động 2019 thay thế cho Bộ luật Lao động 2012 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021. Theo đó, tại Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2019 quy định khái niệm về NLĐ có sự điều chỉnh như sau: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động” [11]. Như vậy, khái niệm NLĐ ở Bộ luật LĐ 2019 có sự mở rộng hơn khi không có quy định “người từ đủ 15 tuổi trở lên”. Bộ luật LĐ 2019 quy định rõ thêm trường hợp lao động dưới 15 tuổi như: Tại Khoản 3 Điều 143 quy định người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ LĐ Thương binh Xã hội ban hành.
Tại khoản 4 quy định người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc như nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Khái niệm động lực lao động Ở bất cứ một tổ chức, DN nào kể từ khi thành lập cũng mong cầu một sự phát triển thịnh vượng trong quá trình SXKD của mình. Và để có thể làm được điều đó thì phải kể đến vai trò vô cùng quan trọng của “nguồn nhân lực”. Tuy nhiên, làm thế nào 6 để xây dựng nguồn nhân lực hiệu quả, để họ phát huy hết khả năng của mình, làm việc hăng say và có hiệu quả hoàn thành công việc cao nhất là một vấn đề mà các nhà lãnh đạo luôn trăn trở.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến trạng thái làm việc của NLĐ, trong đó yếu tố đóng vai trò quyết định nhất chính là động lực làm việc. Năm 1973, Maier & Lawler đã đưa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi NLĐ như sau: Kết quả thực hiện công việc = khả năng + động lực. Trong đó có thể hiểu rằng: - Khả năng = khả năng bẩm sinh × Đào tạo × Nguồn lực: Là khả năng, năng lực làm việc của mỗi cá nhân phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh (do di truyền); thêm đó là những kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm tích lũy được qua quá trình học tập, đào tạo, rèn luyện và đồng thời NLĐ sẽ cần những nguồn lực để thực hiện công việc. - Động lực = Khát khao × Tự nguyện: Đây là sự tự nguyện và khát khao ở mỗi cá nhân NLĐ.
Theo mô hình trên, để nâng cao kết quả thực hiện công việc của NLĐ cần phải tăng cường khả năng của NLĐ và tăng cường động lực lao động, làm cho người lao động thỏa mãn được nhu cầu, đạt được những lợi ích mà họ mong muốn khi họ nỗ lực hoàn thành tốt công việc. Trên thực tế, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều những quan niệm khác nhau về động lực lao động và thật khó để nói rằng quan niệm nào là đúng nhất. Ở mỗi quan niệm khai thác những khía cạnh khác nhau, nhưng tổng hòa lại chúng đều có sự bổ sung và hoàn thiện cho nhau. Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về động lực lao động.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Th. Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức” [5, tr134]. 7 Theo giáo trình Hành vi tổ chức của TS. Bùi Anh Tuấn - Trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [17, tr89]. Như vậy, có thể hiểu bản chất của động lực lao động là sự khuyến khích động viên để NLĐ có sự tự nguyện, khát khao và cố gắng trong công việc. Từ đó, NLĐ đạt được mục tiêu của cả cá nhân và gắn liền với mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp. Động lực lao động là một nhân tố quan trọng để giúp tăng năng suất lao động và hiệu quả thực hiện công việc, khi NLĐ có sức mạnh và sự hứng khởi sẽ làm việc một cách hăng say, nỗ lực và nhiệt tình để tạo ra các sản phẩm dịch vụ hoàn hảo nhất.
Tuy nhiên, chúng ra cũng cần phân biệt rõ rằng, động lực lao động là một nhân tố mang tính thúc đẩy, chứ không phải nguồn gốc của việc tăng năng suất và hiệu quả SXKD, vì hoạt động này còn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố khác như điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng, máy móc thiết bị, trình độ tay nghề của NLĐ, đặc điểm sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp…Tổ chức, DN cần phân biệt rõ và hiểu bản chất của động lực LĐ thì mới có thể xây dựng được các chính sách tạo động lực hiệu quả nhất. Khái niệm tạo động lực lao động Theo TS. Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc” [17, tr87]. Hồ Bá Thâm: “Tạo động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc mà mong muốn được đóng góp cho tổ chức” [14, tr8].
Từ một số khái niệm ở trên, ta có thể thấy tạo động lực lao động là việc các nhà quản trị thông qua những chính sách, biện pháp của mình để tác động đến tâm lý, nhu cầu của người lao động, giúp họ cảm thấy hài lòng và thúc đẩy sự khát khao, cống hiến của họ trong công việc. Tạo động lực LĐ là một trong những vấn đề mang tính quản trị ở mỗi DN. Các 8 nhà quản trị cần phải xây dựng những biện pháp, chính sách và không ngừng đổi mới, cập nhập để NLĐ trong doanh nghiệp của mình có động lực, tinh thần và nỗ lực làm việc. Khi NLĐ thể hiện sự hăng say làm việc và sáng tạo không ngừng sẽ tạo ra năng suất và hiệu quả công việc cao, từ đó giúp đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Khái niệm doanh nghiệp Khái niệm doanh nghiệp: Theo khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [12]. Như vậy, doanh nghiệp được thành lập và đăng kí kinh doanh theo thủ tục pháp lí nhất định. Hiện tại, tuỳ thuộc tính chất của mỗi loại chủ thể kinh doanh mà pháp luật quy định thủ tục thành lập và đăng kí kinh doanh riêng. Đồng thời, DN được thừa nhận là thực thể pháp lí, có thể nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật và được tham gia vào tất cả các quan hệ trong giao lưu dân sự cũng như các quan hệ tố tụng theo quy định.
Hiện nay, đa số các doanh nghiệp đều có một lĩnh vực riêng, có thể thực hiện quá trình sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhằm tạo ra doanh thu và lợi nhuận. Nhưng cũng có những DN hoạt động trên cơ sở phi lợi nhuận, thay vào đó sẽ là các mục tiêu vì cộng đồng, xã hội, môi trường.Doanh nghiệp là một loại hình tổ chức, tính tổ chức được thể hiện qua việc có trụ sở giao dịch, có tư cách pháp nhân (trừ loại hình DN tư nhân), có tổ chức điều hành và cơ cấu nguồn nhân lực. Khái niệm Công ty cổ phần Theo Khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020, Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sẽ sở hữu cổ phần.
Tối thiểu phải có ba cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa, điều này giúp công ty cổ phần có thể mở rộng số lượng thành viên tuỳ theo nhu cầu của mình. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp. Lợi nhuận mà cổ đông nhận được từ việc sở hữu cổ phần là cổ tức. So với các loại hình công ty khác, công ty cổ phần có khả năng huy động vốn 9 linh hoạt.
Giống như các loại hình công ty khác, công ty cổ phần có thể huy động vốn từ các khoản vay tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Ngoài ra công ty cổ phần có thể huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Cơ chế huy động vốn linh hoạt này là một trong những ưu điểm lớn so với các loại hình doanh nghiệp khác. Cá nhân, tổ chức thành lập công ty cổ phần để họ có thể chủ động hơn về nguồn vốn khi có nhu cầu.
Công ty cổ phần có đầy đủ các yếu tố để được coi là có tư cách pháp nhân theo Điều 74 Bộ Luật Dân sự 2015. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty chính thức có tư cách pháp nhân. Công ty sẽ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty và có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các tranh chấp dân sự, thương mại nếu có. Công ty có quyền sở hữu tài sản riêng.