Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số 9.02) với đề tài "Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" do nghiên cứu sinh Lê Ngọc Dũng thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Văn Gầu. Hội đồng chấm luận án bao gồm các phản biện độc lập: PGS. Trần Mai Ước, PGS. Hà Trọng Thà; cùng các ủy viên phản biện: PGS. Vũ Đức Khiển, PGS. Hà Trọng Thà và PGS. Cao Xuân Long.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra những chuyển biến lớn trong phát triển kinh tế - xã hội nhưng đồng thời đặt ra thách thức nghiêm trọng về cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy thoái tầng ozon và ô nhiễm môi trường. Tại Việt Nam, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021) đã chỉ rõ những hạn chế tích tụ: khai thác tài nguyên thiếu bền vững, quản lý đất đai chưa hiệu quả, suy giảm chất lượng không khí, ô nhiễm nguồn nước đô thị và áp lực chất thải rắn.

Tại tỉnh Đồng Nai – một địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh – việc phát triển các khu công nghiệp tập trung đã mang lại tăng trưởng kinh tế cao nhưng kéo theo nhiều hệ lụy: lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt tăng liên tục (từ 184.000 m³/ngày năm 2015 lên 199.440 m³/ngày năm 2019), chất thải rắn sinh hoạt gia tăng (từ 1.622 tấn/ngày năm 2016 lên 1.800 tấn/ngày năm 2020), gia tăng dân số cơ học (tăng hơn 535.000 người giai đoạn 2010–2019), gây áp lực nặng nề lên hạ tầng và môi trường sống. Trong khi các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề môi trường Đồng Nai ở góc độ kỹ thuật đơn lẻ hoặc kinh tế thuần túy, luận án lựa chọn phân tích quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường dưới lăng kính triết học nhằm cung cấp luận cứ giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển và bảo tồn sinh thái.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chỉ ra nguyên nhân của thành tựu, hạn chế; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện hài hòa mối quan hệ này vì mục tiêu phát triển bền vững.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố này.
    2. Phân tích, đánh giá các nhân tố tác động và thực trạng thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường tại tỉnh Đồng Nai từ năm 2001 đến nay, làm rõ các nguyên nhân và vấn đề thực tiễn đặt ra.
    3. Xác định phương hướng cơ bản và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường (trọng tâm là môi trường tự nhiên, sinh thái) trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Đồng Nai.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2001 (thời điểm Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VII, nhiệm kỳ 2001–2005) đến năm 2021–2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu lý luận về tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và công nghiệp hóa, hiện đại hóa

  • Về tăng trưởng và mô hình kinh tế: Ngô Đức Thịnh và Võ Quang Trọng (2002) nghiên cứu về bảo vệ rừng, sử dụng đất canh tác phục vụ phát triển kinh tế vùng; Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (2006) phân tích tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế; Ngô Quang Thái và Ngô Thắng Lợi (2007) khảo sát thành tựu và thách thức phát triển bền vững ở Việt Nam; Trần Văn Tùng (2002), Trần Thọ Đạt (2008), Nguyễn Thị Doan (2010) cung cấp các mô hình toán học và chỉ ra mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào khai thác tài nguyên; Nguyễn Mạnh Hùng (2004), Nguyễn Văn Thường (2005), Cù Chí Lợi (2008), Võ Văn Đức (2009) phân tích rào cản và giải pháp huy động nguồn lực tăng trưởng.
  • Về đạo đức sinh thái và bảo vệ môi trường: Phạm Thị Ngọc Trầm (2005) nghiên cứu đạo đức sinh thái trong khai thác tài nguyên; Hoàng Hữu Bình (2005) đánh giá tác động môi trường của các chương trình phát triển miền núi; Đỗ Huy (2007), Phan Thị Hồng Duyên (2008), Vũ Trọng Dung (2009), Nguyễn Minh Hằng (2010) bàn về giáo dục đạo đức sinh thái và quan hệ tự nhiên - con người; Nguyễn Danh Sơn (2013) cảnh báo suy giảm tài nguyên và biến đổi khí hậu; Phạm Ngọc Đăng (2000), Lương Việt Hải và I. Lixiev (2008), Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009) khảo sát hiện trạng môi trường đô thị và khu công nghiệp.

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường

  • Nghiên cứu quốc tế: Kenneth Arrow cùng nhóm tác giả (1995) chỉ ra giới hạn chịu đựng của hệ sinh thái và vai trò của cấu trúc đầu vào - đầu ra; Carlo Carraro và Marzio Galeotti (1997) ứng dụng mô hình WARM chứng minh chính sách công nghệ giảm thiểu phát thải không làm suy giảm cạnh tranh; Mohan Munasinghe (1999) phân tích đường cong Kuznets môi trường (EKC) và cảnh báo tính giới hạn của các mô hình tăng trưởng truyền thống; Tom Tietenberg (2005) phân tích các công cụ kinh tế như hạn ngạch xả thải, chứng chỉ giảm phát thải (ERC).
  • Nghiên cứu tại Việt Nam và cấp địa phương: Bùi Văn Dũng, Nguyễn Trường Sơn, Đinh Trung Thành (2001) nghiên cứu mối quan hệ tăng trưởng - môi trường dưới góc độ triết học ở tầm vĩ mô; Nguyễn Văn Ngừng (2004), Nguyễn Văn Kim (2004 - kinh nghiệm Nhật Bản), Nguyễn Huy Hoàng (2015 - chính sách tăng trưởng xanh ASEAN); các luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Khương (2014) về vai trò của Nhà nước, Đỗ Trọng Hưng (2015) về kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở Bắc Trung Bộ; các nghiên cứu về Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của Đại học Văn Lang (2000), Trung tâm Kỹ thuật Nhiệt đới (2000), Trương Thị Minh Sâm (2001); các nghiên cứu tại tỉnh Đồng Nai của Phẩm An Ninh (2002), Võ Văn Một (2004), Chu Viết Luân (2005), Nguyễn Xuân Trình (2008), Phạm Văn Thanh (2009), Nguyệt Trinh (2009), Nguyễn Văn Long (2011), Ngô Minh Quang và cộng sự (2011), Lê Viết Hưng (2011), Ban Kinh tế Tỉnh ủy Đồng Nai (2006).

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình nghiên cứu tại Đồng Nai mang tính chuyên ngành hẹp (kỹ thuật môi trường, quản lý chất thải, đánh giá ô nhiễm cục bộ) hoặc nghiên cứu kinh tế học thuần túy. Chưa có công trình nào tiếp cận một cách toàn diện, hệ thống mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Nai dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong suốt tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 2001 đến nay. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm:

  • Hệ tư tưởng và triết học nền tảng: Thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; các nguyên lý của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin về mối quan hệ giữa con người, xã hội và giới tự nhiên; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội (VII, IX, XIII), Chỉ thị số 36/CT-TW (1998) của Bộ Chính trị.
  • Khái niệm kinh tế và tăng trưởng kinh tế: Tiếp cận từ lịch sử thuật ngữ (Chu Dịch phương Đông: "kinh bang tế thế", "kinh thế tế dân"; Xê-nô-phôn Hy Lạp cổ đại: "Kinh tế luận"; Adam Smith: "Sự giàu có của các quốc gia"), quan điểm Mác-xít và Từ điển bách khoa Việt Nam. Khái niệm tăng trưởng kinh tế gắn liền với Simon Kuznets, hàm Cobb-Douglas, John Maynard Keynes, Harrod-Domar, Lê Cao Đoàn, Park, Lê Minh Sang và Mai Ngọc Cường. Luận án phân định rõ: tăng trưởng kinh tế là sự biến đổi về lượng (gia tăng sản lượng hàng hóa, dịch vụ, GDP, GNP bình quân đầu người), trong khi phát triển kinh tế bao hàm sự biến đổi về chất (tiến bộ xã hội, cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chỉ số phát triển con người HDI, tuổi thọ, tri thức và bảo vệ sinh thái).
  • Khái niệm môi trường và các phân hệ: Môi trường được phân tách thành 3 phân hệ hữu cơ:
    1. Môi trường tự nhiên: Toàn bộ các yếu tố đất, nước, không khí, sinh vật, thực hiện 3 chức năng sống còn: không gian sinh tồn/sinh quyển; nơi cung cấp tài nguyên đầu vào cho sản xuất; nơi tiếp nhận chất thải đầu ra.
    2. Môi trường xã hội: Hệ tư tưởng, thể chế, pháp luật, văn hóa, nếp sống hình thành nhân cách và ý thức con người.
    3. Môi trường nhân tạo: Các công trình hạ tầng, thủy lợi, đô thị, công viên do con người cải tạo từ nền tảng tự nhiên.
  • Khái niệm bảo vệ môi trường: Định nghĩa theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các tuyên bố quốc tế (Stockholm 1972, Rio 1992), xác định bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu, ứng phó sự cố, khắc phục suy thoái và khai thác hợp lý tài nguyên.
  • Khung phân tích dòng vật chất: Kế thừa mô hình của Manfred Schreiner (2002) về tương tác giữa nền kinh tế và môi trường tự nhiên thông qua dòng chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành đầu ra mong muốn (hàng hóa) và đầu ra không mong muốn (phế liệu, chất thải).

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn mang tính định tính và phân tích văn bản:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu.
  • Phương pháp văn bản học, hệ thống hóa và khái quát hóa tư liệu thực tiễn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Tư liệu nghiên cứu bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước; Luật Bảo vệ môi trường (2014), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004); các văn kiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai (Quy hoạch phát triển KH&CN và BVMT năm 2003, Nghị quyết số 125/2008/NQ-HĐND, Quyết định số 2325/QĐ-UBND năm 2016); báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai, Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai và hệ thống báo cáo môi trường chuyên ngành.


Nội dung chính theo từng chương

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế và áp lực môi trường tỉnh Đồng Nai trong văn bản

Nhóm chỉ tiêu Năm 2005 / Giai đoạn trước Năm 2015 / 2019 / 2020 Ghi chú từ văn bản
Cơ cấu kinh tế (GRDP) Công nghiệp - Xây dựng: 57,0%
Dịch vụ: 28,0%
Nông - Lâm - Thủy sản: 15,0%
Công nghiệp - Xây dựng: 56,7%
Dịch vụ: 37,7%
Nông - Lâm - Thủy sản: 5,6%
Chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghiệp và dịch vụ (Sở KH&ĐT Đồng Nai, 2017)
Tốc độ tăng thu ngân sách Giai đoạn 2005–2015 tăng gấp 7,5 lần so với 1995–2005 Năm 2019: đạt 55.603 tỷ đồng (chiếm 3,61% cả nước, xếp thứ 5 toàn quốc) Giai đoạn 2016–2020: thu từ khu vực kinh tế tăng bình quân 6,4%/năm
Lượng nước thải phát sinh 184.000 m³/ngày (năm 2015) 199.440 m³/ngày (năm 2019) Tăng liên tục, làm tăng ô nhiễm nguồn tiếp nhận (Phụ lục 2021, Biểu 1)
Chất thải rắn sinh hoạt 1.622 tấn/ngày (năm 2016) 1.800 tấn/ngày (tháng 7/2020) Áp lực lớn lên hạ tầng thu gom, xử lý (Phụ lục 2021, Biểu 3)
Gia tăng dân số Tăng 312,21 nghìn người (giai đoạn 2010–2015) Tăng 223,71 nghìn người (giai đoạn 2015–2019) Thành thị: 1.371,75 nghìn người (44,06%); Nông thôn: 1.741,96 nghìn người (55,94%)

Chương 1: Lý luận chung về tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 1 xây dựng khung lý luận triết học về mối quan hệ giữa các phạm trù cơ bản:

  • Bản chất kinh tế và tăng trưởng kinh tế: Kinh tế là hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất, là phương thức sản xuất và tổng hòa các quan hệ sản xuất dựa trên trình độ nhất định của lực lượng sản xuất. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng quy mô sản lượng (GDP, GNP bình quân đầu người) qua thời gian, chịu sự chi phối của 4 yếu tố cốt lõi: nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, tích lũy vốn và khoa học - công nghệ. Luận án chỉ rõ tăng trưởng là phương tiện vật chất cần thiết nhưng không đồng nhất với phát triển kinh tế; một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng hủy hoại môi trường và bỏ qua tiến bộ xã hội không thể coi là phát triển.
  • Môi trường và bảo vệ môi trường: Môi trường là hệ thống vật chất tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người. Tự nhiên vừa cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào, vừa là sinh quyển nuôi dưỡng sự sống, vừa là nơi dung nạp các chất thải đầu ra. Khả năng cung cấp tài nguyên và dung nạp chất thải của tự nhiên là có hạn.
  • Mối quan hệ biện chứng hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường:
    • Tác động của tăng trưởng đến bảo vệ môi trường: Tăng trưởng làm bộc lộ giá trị và chức năng của môi trường; tạo nguồn lực vật chất, ngân sách và điều kiện kỹ thuật để xử lý ô nhiễm, phục hồi sinh thái; thúc đẩy đổi mới công nghệ sạch. Tuy nhiên, nếu tăng trưởng chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và mở rộng quy mô sản xuất bằng công nghệ lạc hậu, đầu ra chất thải sẽ vượt ngưỡng chịu đựng của tự nhiên, gây suy thoái sinh thái nghiêm trọng.
    • Tác động của bảo vệ môi trường đến tăng trưởng: Môi trường trong lành và nguồn tài nguyên bền vững là tiền đề đảm bảo tính liên tục của quá trình tái sản xuất mở rộng. Ngược lại, khủng hoảng môi trường sẽ phá hủy các thành quả kinh tế, làm tăng chi phí khắc phục sự cố và làm suy giảm năng suất lao động.
  • Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản các hoạt động kinh tế - xã hội sang sử dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Quá trình này kích thích tăng trưởng nhanh nhưng nếu không gắn với các tiêu chuẩn môi trường sẽ đẩy nhanh tốc độ cạn kiệt tài nguyên và tích tụ ô nhiễm.

Chương 2: Những nhân tố chủ yếu tác động và thực trạng quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 2 tập trung phân tích bối cảnh cụ thể và đánh giá thực tiễn tại Đồng Nai:

  • Năm nhóm nhân tố tác động chủ yếu:
    1. Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước giữ vai trò định hướng, chỉ đạo, quản lý hàng đầu.
    2. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế tạo động lực cạnh tranh, thu hút đầu tư nhưng tiềm ẩn nguy cơ du nhập công nghệ ô nhiễm.
    3. Sự phát triển của khoa học và công nghệ quyết định hiệu quả sử dụng nguyên liệu và công nghệ xử lý chất thải.
    4. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và bối cảnh kinh tế - xã hội tại chỗ của tỉnh Đồng Nai.
    5. Đặc điểm của mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên các khu công nghiệp tập trung của địa phương.
  • Thực trạng đạt được (mặt tích cực): Tỉnh Đồng Nai đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục; cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh (công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm trên 94% GRDP); thu ngân sách năm 2019 đạt 55.603 tỷ đồng (đứng thứ 5 cả nước). Tăng trưởng kinh tế đã tạo lập nguồn vốn đầu tư hạ tầng giao thông, điện, giáo dục và từng bước hình thành hệ thống quan trắc, xử lý chất thải công nghiệp tập trung.
  • Hạn chế và mâu thuẫn phát sinh:
    • Lượng nước thải phát sinh tăng từ 184.000 m³/ngày (2015) lên 199.440 m³/ngày (2019), đe dọa các nguồn tiếp nhận nước mặt.
    • Chất thải rắn sinh hoạt gia tăng từ 1.622 tấn/ngày (2016) lên 1.800 tấn/ngày (2020), công tác phân loại và xử lý chưa triệt để.
    • Sức ép gia tăng dân số đô thị và phương tiện giao thông gây ô nhiễm không khí, tiếng ồn; diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp nhanh chóng để nhường chỗ cho khu công nghiệp và hạ tầng đô thị.
    • Quy hoạch phát triển công nghiệp chưa đồng bộ hoàn toàn với quy hoạch bảo vệ môi trường; năng lực quản lý nhà nước tại một số cấp cơ sở chưa theo kịp tốc độ công nghiệp hóa; nhận thức về đạo đức sinh thái của một bộ phận doanh nghiệp và người dân còn hạn chế.
  • Nguyên nhân và vấn đề đặt ra: Xuất phát từ tư duy ưu tiên tăng trưởng sản lượng kinh tế trước mắt, công nghệ sản xuất ở một số cơ sở còn lạc hậu, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe và thiếu hụt nguồn lực đầu tư chuyên sâu cho công nghệ tái chế, kinh tế tuần hoàn.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 3 đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp đồng bộ:

  • Ba phương hướng cơ bản:
    1. Quán triệt phát triển bền vững là yêu cầu quan trọng hàng đầu trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
    2. Đảm bảo sự hài hòa xuyên suốt giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường; kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần.
    3. Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp gắn kết với thực tiễn địa phương, giải quyết dứt điểm các điểm nóng môi trường phát sinh.
  • Ba nhóm giải pháp chủ yếu:
    1. Nhóm giải pháp tuyên truyền, giáo dục: Nâng cao nhận thức về đạo đức sinh thái, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; phổ biến pháp luật bảo vệ môi trường cho cán bộ, công chức và cộng đồng dân cư.
    2. Nhóm giải pháp kiện toàn tổ chức quản lý môi trường: Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành; nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm tra, giám sát xả thải tại các khu, cụm công nghiệp; gắn tiêu chí môi trường vào công tác thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư trực tiếp (FDI) và dự án trong nước.
    3. Nhóm giải pháp khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế: Thúc đẩy ứng dụng công nghệ sản xuất sạch, công nghệ xử lý chất thải rắn và nước thải tiên tiến; khuyến khích phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn, công viên sinh thái; mở rộng hợp tác chuyển giao công nghệ môi trường với các tổ chức trong và ngoài nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở cấp độ một tỉnh công nghiệp phát triển nhanh.
  • Làm rõ mối liên hệ giữa các phân hệ môi trường (tự nhiên, xã hội, nhân tạo) và chỉ ra các nhân tố quy định sự cân bằng giữa phát triển lực lượng sản xuất với bảo tồn sinh quyển tại địa phương.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh đánh giá thực trạng việc thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường tại tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2021–2022 thông qua các số liệu cụ thể về GRDP, ngân sách, nước thải, rác thải và dân số.
  • Chỉ ra nguyên nhân căn bản của những bất cập, mâu thuẫn phát sinh trong quy hoạch và quản lý môi trường khu công nghiệp tại địa phương.
  • Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp thực tế có giá trị ứng dụng cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý của tỉnh Đồng Nai trong hoạch định chính sách phát triển bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu không gian trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và giới hạn thời gian từ năm 2001 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (2022). Về nội dung, luận án tập trung chủ yếu vào thành tố môi trường tự nhiên, sinh thái dưới góc độ tiếp cận của chuyên ngành triết học, chưa đi sâu vào các tính toán mô hình kinh tế lượng hoặc các giải pháp công nghệ kỹ thuật chuyên sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng đối với toàn bộ Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; nghiên cứu sâu hơn cơ chế vận hành của các công cụ kinh tế (thuế môi trường, thị trường mua bán hạn ngạch phát thải) và mô hình khu công nghiệp sinh thái trong bối cảnh cam kết giảm phát thải ròng bằng 0.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu tham khảo cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Đồng Nai, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai trong việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thiện quy chế quản lý môi trường khu công nghiệp.
  • Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Cung cấp tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh các chuyên ngành Triết học, Triết học Mác - Lênin, Quản lý tài nguyên môi trường và Kinh tế phát triển khi tiếp cận mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội.
  • Phần có giá trị tham khảo cao: Nội dung Chương 1 (khung phân tích triết học về tăng trưởng và môi trường), Chương 2 (hệ thống dữ liệu thực trạng tại Đồng Nai) và Chương 3 (các nhóm giải pháp quản lý thực tế).

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng Nai đã chuyển dịch như thế nào trong giai đoạn 2005 – 2015? Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai (2017) được luận án trích dẫn, năm 2005 tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 57%, dịch vụ chiếm 28%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 15% trong GRDP của tỉnh. Đến năm 2015, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: công nghiệp - xây dựng chiếm 56,7%, dịch vụ tăng lên 37,7%, còn nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống 5,6%.

2. Thực trạng phát sinh chất thải rắn và nước thải tại tỉnh Đồng Nai diễn biến ra sao trong giai đoạn nghiên cứu? Văn bản luận án nêu rõ lượng nước thải phát sinh giai đoạn 2015–2019 tăng liên tục từ 184.000 m³/ngày lên 199.440 m³/ngày. Đối với chất thải rắn sinh hoạt, lượng phát sinh trên địa bàn tỉnh tăng từ 1.622 tấn/ngày vào năm 2016 lên mức 1.800 tấn/ngày tính đến tháng 7 năm 2020.

3. Cơ sở lý luận nền tảng nào được tác giả sử dụng để giải quyết đề tài? Luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ thống quan điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin về mối quan hệ giữa tự nhiên, con người và xã hội, cùng với các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.

4. Môi trường được luận án phân chia thành các phân hệ nào và môi trường tự nhiên có những chức năng gì? Luận án phân chia môi trường thành 3 phân hệ: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo. Trong đó, môi trường tự nhiên thực hiện 3 chức năng chính: (1) là sinh quyển cần thiết cho sự sống và phát triển của con người; (2) là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên làm đối tượng lao động và đầu vào cho sản xuất; (3) là nơi chứa đựng và dung nạp các chất thải từ hoạt động sinh hoạt và sản xuất của xã hội.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nào ở Chương 3? Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nhóm giải pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường hài hòa.
  2. Nhóm giải pháp kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức quản lý môi trường.
  3. Nhóm giải pháp thúc đẩy hợp tác, hội nhập, ứng dụng khoa học và công nghệ sạch vào sản xuất và xử lý chất thải.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Ngọc Dũng đã làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tại tỉnh Đồng Nai dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 2001 đến nay. Trên cơ sở đối chiếu khung lý luận với thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các chỉ số áp lực môi trường (nước thải, rác thải, áp lực đô thị hóa), công trình đã chỉ rõ nguyên nhân của các mâu thuẫn sinh thái phát sinh tại địa phương. Luận án đã xác định ba phương hướng cốt lõi và xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ về tuyên truyền, kiện toàn tổ chức quản lý và ứng dụng khoa học - công nghệ nhằm hướng tới sự phát triển bền vững cho tỉnh Đồng Nai.