PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thế giới đương đại đang chứng kiến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra những bước tiến thần tốc ở rất nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến đời sống, xã hội, làm thay đổi nhanh chóng và sâu sắc tới sự phát triển của kinh tế xã hội và bản thân con người. Bên cạnh những thành tựu rực rỡ về khoa học và công nghệ, loài người cũng đang phải đối mặt với những thách thức lớn lao về chính trị, văn hóa và đặc biệt là môi trường tự nhiên. Trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI, do sức ép gắt gao về dân số và sự phát triển kinh tế thiếu tính toán, các nguồn tài nguyên trên trái đất ngày càng cạn kiệt, môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, thậm chí một số vùng còn bị phá hủy hoàn toàn.
Hàng loạt các vấn đề về môi trường như biến đổi khí hậu, hiện tượng băng tan, nước biển dâng, suy thoái tầng ozon, suy thoái đa dạng sinh học, ô nhiễm và suy thoái tài nguyên đất và nước ngọt. đang là những thách thức đối với sự tồn tại của loài người, của trái đất, Việt Nam cũng không nằm ngoài những thách thức này. Việt Nam đang đứng trước những thách thức to lớn với xuất phát điểm là một đất nước nghèo, điểm xuất phát thấp, chiến tranh kéo dài, nền kinh tế và môi trường đã đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết. Tuy nhiên, nếu quá vội vàng trong việc áp dụng các giải pháp chính sách đầu tư, đổi mới thiếu quy hoạch kinh tế xã hội và môi trường theo quan điểm phát triển bền vững trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học và hệ thống thì tất yếu sẽ dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.
Hậu quả đó có thể có lợi cho kinh tế trước mắt nhưng lại có hại lâu dài, nền kinh tế sẽ bị suy thoái khi phát triển quá ngưỡng chịu đựng của môi trường tự nhiên. Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đã có những khởi sắc rõ rệt về kinh tế, đời sống nhân dân được nâng cao, nhận thức về BVMT và phát triển bền vững đã có những tiến bộ rõ rệt. Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam đang bị khai thác ngày càng kiệt 2 quệ và có xu hướng cạn kiệt, môi trường tự nhiên bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đại hội Đảng XIII (2021) sau khi tổng kết quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm giai đoạn (2016 - 2020) đã khẳng định cùng với phát triển kinh tế xã hội và đẩy mạnh CNH, HĐH đã đạt được những kết quả tích cực thì bên cạnh đó việc khai thác tài nguyên thiếu bền vững, hiệu quả quản lý, sử dụng chưa cao, chưa theo nguyên tắc thị trường, nhất là đất đai.
Việc khai thác, sử dụng, định giá đất còn nhiều hạn chế, chưa sát thực tế. Tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái chưa được đánh giá, hạch toán đầy đủ, sử dụng bền vững. Việc quản lý và xử lý chất thải rắn đô thị còn hạn chế, môi trường nước ở một số đô thị bị ô nhiễm. Chất lượng không khí ở các đô thị lớn có dấu hiệu suy giảm.
Tình trạng xâm nhập mặn, phèn hóa, sạt lở bờ sông, bờ biển xảy ra nghiêm trọng ở một số nơi. An ninh nguồn nước chưa được quan tâm đúng mức… Vì vậy, việc phân tích, đánh giá quan hệ giữa TTKT với BVMT trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách đảm bảo sự phát triển bền vững là vấn đề mang tính cấp thiết. Là địa phương có vị trí địa lý thuận lợi, là đầu mối giao thông quan trọng trong các tỉnh khu vực Nam Bộ, tỉnh Đồng Nai giữ vị thế quan trọng đối với cả nước và khu vực. Đặc biệt do biết tận dụng và khai thác tốt điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, tỉnh Đồng Nai đã vươn mình trở thành một trong những địa phương có sự TTKT năng động bậc nhất khu vực, đóng góp nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Với việc hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, công nghiệp tỉnh Đồng Nai đã có bước phát triển đột phá, thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng CNH, HĐH, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong khi vẫn giữ nhịp độ tăng trưởng khá cao trong các ngành kinh tế. Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai (2017): Năm 2005 tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 57%, dịch vụ chiếm 28%, nông, lâm nghiệp và thủy 3 sản chiếm 15% trong GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn) của tỉnh; đến năm 2015 cơ cấu kinh tế là: công nghiệp - xây dựng chiếm 56,7%, dịch vụ chiếm 37,7%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 5,6%. Khu vực công nghiệp và dịch vụ gia tăng nhanh chóng đã tác động mạnh đến phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh. Tốc độ tăng thu ngân sách lớn, giai đoạn 2005 - 2015 tăng gấp 7,5 lần so với giai đoạn 1995 - 2005.
Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước từ khu vực kinh tế đạt 6,4%. Thu ngân sách tỉnh năm 2019 đạt 55.603 tỷ đồng, tỷ lệ 3,61% và đứng thứ năm so với cả nước (Tỉnh ủy Đồng Nai, 2020, tr. Sự TTKT cao và liên tục đã tạo điều kiện tích lũy nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như hệ thống giao thông, điện, thông tin liên lạc, phát triển giáo dục, đào tạo v.v… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu về kinh tế, tỉnh Đồng Nai phải đối mặt với các hệ lụy về môi trường: riêng giai đoạn 2015 - 2019, lượng nước thải phát sinh đều tăng liên tục qua các năm, thay đổi từ 184.000 m3/ngày lên đến 199.440 m3/ngày (Xem Phụ lục, 2021, biểu 1), làm gia tăng ô nhiễm môi trường nước tại các nguồn tiếp nhận; sự gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa nhanh, kéo theo sự gia tăng số lượng phương tiện giao thông cá nhân, gây ô nhiễm tiếng ồn, sức ép ngày càng lớn lên môi trường không khí và sự thu hẹp dần diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu nhà ở. Từ năm 2010 đến năm 2015, dân số toàn tỉnh tăng 312,21 nghìn người và từ năm 2015 - 2019 tăng 223,71 nghìn người.
Trong đó, dân số thành thị là 1.371,75 nghìn người, chiếm 44,06%; dân số nông thôn là 1.741,96 nghìn người, chiếm 55,94% (UBND tỉnh Đồng Nai, 2021, tr. Bên cạnh đó, sự gia tăng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng đáng báo động, từ 1.622 tấn/ngày năm 2016 lên 1.800 tấn/ngày tính đến tháng 7/2020 (Xem Phụ lục, 2021, biểu 3)… Đây những nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH. 4 Thời gian qua, dù các cấp ủy Đảng và chính quyền tỉnh Đồng Nai đã có nhiều nỗ lực nhưng thực tế việc thực hiện mối quan hệ giữa TTKT với BVMT ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của tỉnh. Những bất cập đó được biểu hiện trong công tác quy hoạch, lập kế hoạch, dự án để phục vụ mục tiêu TTKT và BVMT; trong hệ thống chính sách thực hiện mối quan hệ giữa TTKT với BVMT; trong việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào TTKT và BVMT; trong nhận thức của một bộ phận công chức, viên chức, nhân dân và doanh nghiệp về vấn đề BVMT và TTKT.
Từ thực tiễn quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Nai cho thấy tỉnh cũng có những yêu cầu tăng trưởng nhanh để cải thiện và nâng cao đời sống, nhưng cũng nổi lên rất nhiều vấn đề môi trường tự nhiên. Dường như càng phát triển kinh tế xã hội, càng thực hiện CNH, HĐH thì vấn đề mội trường càng trở nên bức xúc và gay gắt hơn. Kinh tế xã hội càng phát triển lại càng thấy rõ sự liên hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên và môi trường. Một đòi hỏi tất yếu đối với tỉnh Đồng Nai là phải giải quyết hài hòa vấn đề BVMT với yêu cầu TTKT trong thực hiện CNH, HĐH.
Đây là vấn đề có tính cấp thiết, mang ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn đối với tỉnh Đồng Nai. Từ cách tiếp cận đó, Nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ với tên gọi: “Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Nai trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Vấn đề TTKT với BVMT trong quá trình CNH, HĐH từ lâu trở thành đề tài “nóng”, mang tính thời sự cấp thiết, được sự quan tâm của các cấp bộ, ngành và nhiều nhà chuyên môn, nhà khoa học. Có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước với nhiều cách tiếp cận khác nhau trên phương diện lý luận và thực tiễn về vấn đề này.
Trong số rất nhiều công trình đó, Nghiên cứu sinh phân tách thành hai vấn đề gắn liền với luận án như sau: 5 Một là, những công trình tiêu biểu nghiên cứu về lý luận tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong tác phẩm Một số vấn đề phát triển kinh tế - xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên (2002), tác giả Ngô Đức Thịnh và Võ Quang Trọng đã đề cập đến nhiều nội dung về sự cần thiết phải bảo vệ rừng, sử dụng đất canh tác hợp lý, làm gì để ngăn chặn việc phá rừng nhất là rừng đầu nguồn,…ở các tỉnh nói chung và ở buôn làng Tây Nguyên nói riêng để phục vụ phát triển kinh tế lâu dài. Công trình Tốc độ và chất lượng TTKT ở Việt Nam (2006) của hai tác giả Nguyễn Văn Nam & Trần Thọ Đạt đã luận bàn sâu những yếu tố quy định chất lượng TTKT của đất nước giai đoạn cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Công trình Phát triển bền vững của Việt Nam: thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng (2007) của hai tác giả khác Ngô Quang Thái & Ngô Thắng Lợi đã khẳng định vai trò của Nhà nước trong điều tiết, quản lý môi trường, xã hội; đồng thời phân tích những yếu tố, điều kiện cơ bản để Việt Nam đạt được những tiến bộ khả quan trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam trong quá trình đổi mới.