Chương 1. Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế Chương 2. Thực trạng tăng trưởng kinh tế tỉnh Đắk Nông Chương 3: Các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy TT kinh tế tỉnh Đắk Nông 7. Tổng quan nghiên cứu 7.
Của thế giới Nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế có rất nhiều công trình vì đây là chủ đề đã được các nhà nghiên cứu, nhà quản lý,… quan tâm rất nhiều. Chủ đề này đã được nghiên cứu từ thế kỷ 18 và tiếp tục phát triển cho tới nay. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế của các nhà nghiên cứu thế giới tập trung vào lý giải cơ chế phân bổ nguồn lực để tạo ra sản lượng theo nhiều cách khác nhau. Theo thời gian có các nghiên cứu sau: - Adam Smith (1723-1790) cho rằng tích lũy tư bản chính là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế vì quá trình này tạo ra sự gia tăng tư bản cho nền kinh tế qua đó thúc đẩy nâng cao năng suất lao động và phân công lao động.
Quá trình tích lũy đòi hỏi phải tiết kiệm nhiều hơn hay tiêu dùng hợp lý từ đó tăng đầu tư nhưng đi liền với quá trình này cần tạo ra một thị trường tự do và rộng lớn bằng giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ theo nguyên tắc bàn tay vô hình. Quan điểm này cho đến nay vẫn có ý nghĩa lớn trong vận dụng hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế. - David Ricardo (1817) đã chỉ rõ vấn đề giới hạn nguồn tài nguyên trước nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Quan điểm này của ông vẫn có ý nghĩa lớn khi đã chỉ ra tính giới hạn của tài nguyên không hạn chế tăng trưởng kinh tế nếu con người biết khai thác sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và 7 chú trọng nâng cao năng suất nông nghiệp để tránh được cái bẫy “nôn nóng ” công nghiệp hóa.
- Vào năm 1940, hai nhà kinh tế Roy F, Harrod (1900 - 1978) và Every Domar (1914-1997) đã đưa ra mô hình phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng và vốn mang tên Harrod- Domar. Theo đó để tăng trưởng, các nước phải tiết kiệm và đầu tư một phần thu nhập, khi tiết kiệm và đầu tư càng nhiều thì tăng trưởng càng nhanh. Nhưng mô hình này cũng bộc lộ những nhược điểm nhất định, khó có cùng một thể chế và cơ cấu kinh tế như nhau để biến vốn thành sản lượng như nhau ở mọi nước, không thể duy trì tỷ lệ vốn trên lao động không đổi và ICOR cố định thì không thể đạt được. - Robert Solow (1956) xem xét một nền kinh tế giản đơn không có chính phủ, đóng cửa và sản xuất hàng hóa dịch vụ nhờ vào lao động và vốn sản xuất, ở đây tiến bộ công nghệ là cho trước và tỷ lệ tiết kiệm ngoại sinh, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp như nhau.
Tích lũy vốn sản xuất quyết định tăng trưởng kinh tế. Khi cho tỷ lệ tiết kiệm tăng lên thì trạng thái dừng thay đổi và tăng trưởng tiếp tục. Khi mô hình được mở rộng điều kiện tiến bộ công nghệ thay đổi theo hướng tiến bộ hơn, khi đó tăng trưởng kinh tế tiếp tục và duy trì trong dài hạn. Mô hình cho thấy việc tiếp thu công nghệ mới thông qua phát minh trong nước hay nhập khẩu công nghệ mới từ nước ngoài, có thể kích thích tăng trưởng kinh tế mạnh như thế nào.
- Arrow (1962) giới thiệu mô hình tăng trưởng nội sinh này tách biệt kiến thức ra khỏi cơ thể người lao động. Mô hình này dựa trên hai giả thiết về tăng năng suất (i) sự gia tăng khối lượng vốn sản xuất của một doanh nghiệp sẽ gia tăng khối lượng kiến thức. (ii) kiến thức trong mỗi doanh nghiệp giống như hàng hoá công khi được tạo ra, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có thể sử dụng nhưng không làm tăng chi phí biên. Nếu chúng ta liên kết hai giả thuyết trên chúng ta có thể nhận ra trữ lượng kiến thức hay công nghệ có tương quan thuận với trữ lượng vốn sản xuất và đưa vào hàm sản xuất có lợi suất không đổi theo quy mô.
Từ đây cho thấy tăng trưởng kinh tế sẽ bằng tốc 8 độ tăng trưởng vốn sản xuất cộng với thị phần của lao động nhân với tốc độ tăng lao động hay tăng trưởng kinh tế là nội sinh bởi vì nó phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm trong nước, hiệu quả đầu tư và tỷ lệ tăng lao động. Các nghiên cứu trong nước - Nghiên cứu của Trần Thọ Đạt (2002) và Chu Quang Khôi (2002) đã cố gắng xác định nguồn gốc tăng trưởng ở Việt Nam. Bằng cách sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng và số liệu thống kê Việt Nam từ 1986- 2002 và cho thấy vốn đóng góp ngày càng tăng trong suốt thời kỳ, vai trò của lao động những năm đầu rất cao (thâm dụng lao động) sau giảm dần, nhân tố TFP có xu hướng tăng dần và yếu tố chu kỳ kinh doanh thay đổi rõ nhất thời kỷ 1998 -2001. Trong các nghiên cứu này các tác giả còn chú ý tới các nhân tố coi là nội sinh như phát triển giáo dục đào tạo, thay đổi cơ cấu kinh tế… - Nghiên cứu của Trương Bá Thanh (2010) bằng phương pháp mô hình tổng thể qua đánh giá được những thay đổi của cấu trúc kinh tế dưới ảnh hưởng của toàn cầu hóa.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi của các ngành kinh tế trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau dưới tác động của các yếu tố ngoại sinh từ bên ngoài qua đó ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. - Bùi Quang Bình (2010) tập trung vào thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với tăng trưởng kinh tế. Dựa trên quan điểm cơ cấu kinh tế thay đổi tức cấu thành các yếu tố tạo ra tăng trưởng sản lượng sẽ thay đổi, nếu những yếu tố có tính chất vững chắc và hàm chứa tiến bộ kỹ thuật chiếm ưu thế thì tăng trưởng manh tính bền vững hơn. Nhìn chung các lý thuyết mô hình tăng trưởng của các nhà kinh tế thế giới và Việt Nam đã chỉ ra cơ chế cơ bản nhất trong phân bổ sử dụng các nguồn lực để tạo ra sản lượng và gia tăng chúng trong dài hạn.
Xu hướng chung của tăng trưởng kinh tế chuyển từ chú trọng khai thác các nhân tố hay nguồn lực theo chiều rộng chuyển dần sang chiều sâu, từ chú trọng các yếu tố ngoại sinh tới quan tâm và tập trung và các yếu tố nội sinh và kết hợp chúng. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1. LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1. Khái niệm và đo lƣờn tăn trƣởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý thuyết về phát triển kinh tế và hiện đang là vấn đề thời sự được quan tâm bởi nhiều đối tượng khác nhau từ nhà nghiên cứu, chính trị hay người dân và doanh nghiệp.
Đây là một khái niệm tiền đề, là nền tảng của nhiều mối quan hệ góp phần tạo nên các mối quan hệ đa chiều của xã hội. Các mối quan hệ đó có thể bao gồm về mối quan hệ giữa tăng trưởng và công bằng xã hội, tăng trưởng kinh tế và văn hóa, tăng trưởng kinh tế và môi trường, tăng trưởng kinh tế và tham nhũng…. Do đó, việc nắm rõ các khái niệm cũng như các lý luận và lý thuyết về tăng trưởng sẽ góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống hơn về mối quan hệ của tăng trưởng với các khái niệm và phạm trù khác, và để từ đó góp phần hài hòa khái niệm này với các khái niệm và phạm trù khác. Có nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng phần lớn đều cho rằng tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh quy mô tăng lên hay giảm đi của nền kinh tế ở năm này so với năm trước đó hoặc của thời kỳ này so với thời kỳ trước đó.
Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng qui mô tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng. Qui mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng lên hay giảm đi nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa các năm hay các thời kỳ. Để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng hai chỉ số chủ yếu: phần tăng, giảm quy mô của nền kinh tế (tính theo GDP), hoặc tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP). Tương tự như vậy Bùi Quang Bình (2010) cho rằng “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng 10 của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/người) qua một thời gian nhất định.
Thường được phản ánh qua mức tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng”. Có hai điểm chung nhất trong các khái niệm: (1) Tăng trưởng kinh tế liên quan đến sự gia tăng thu nhập quốc dân thực tế chứ không phải là thu nhập danh nghĩa do đó cần phải điều chỉnh lạm phát khi tính toán. (2) Quy mô sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người lại phụ thuộc vào quy mô sản lượng của nền kinh tế và dân số quốc gia. Nếu sự gia tăng của cả hai yếu tố này khác nhau sẽ làm cho quy mô sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người thay đổi.
Do vậy trong nhiều trường hợp, thu nhập bình quân đầu người không hề được cải thiện mặc dù có mức tăng trưởng dương. Các chỉ tiêu tổng quát: Các chỉ tiêu phản ánh giá trị tăng trưởng kinh tế theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) bao gồm: tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân (NI), tổng sản phẩm tính bình quân đầu người. Trong đó chỉ tiêu GDP thường là chỉ tiêu quan trọng và hay được sử dụng nhất. Các công thức đo lường tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (qui mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tốc độ tăng trưởng) - Mức tăng trưởng kinh tế Nếu gọi: Y là GDP hay GNP; Yt là GDP hay GNP tại thời điểm t của kỳ phân tích Y0 là GDP hay GNP tại thời điểm gốc của kỳ phân tích Y là mức tăng trưởng Khi đó: Y = Yt – Y0 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ cho biết quy mô sản lượng gia tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ khác nhau.