Chương 1 Tăng trưởng kinh tế dưới ảnh hưởng của ảo giác tiền tệ 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tăng trưởng kinh tế dưới ảnh hưởng của ảo giác tiền tệ Jianjun Miao∗ Danyang Xie† Ngày 24 tháng 11 năm 2016 Tóm tắt Các bằng chứng cả lí thuyết và thực nghiệm đều chỉ ra ảo giác tiền tệ là dai dẳng và phổ biến. Bài báo này đưa khái niệm ảo giác tiền tệ vào một mô hình tiền tệ ngẫu nhiên với thời gian liên tục có tăng trưởng nội sinh. Chúng tôi mô hình hóa hành vi của một đối tượng bị ảo giác tiền tệ bằng giả định rằng anh ta tối đa hóa tiện ích một cách không tiêu chuẩn do phát sinh từ cả giá trị thực và giá trị danh nghĩa. Ảo giác tiền tệ ảnh hưởng đến nhận thức của đối tượng về tăng trưởng và khả năng mạo hiểm đối với tài sản thực, vì vậy làm sai lệch quyết định tiêu dùng/tiết kiệm của anh ta.
Nó ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn thông qua cơ chế này. Chúng tôi cho thấy rằng tổn thất phúc lợi của ảo giác tiền tệ là không đáng kể, trong khi ảnh hưởng của nó đối với tăng trưởng dài hạn thì đáng lưu tâm thậm chí ngay khi độ ảo giác tiền tệ ở mức thấp. ∗ Liên hệ tác giả tại: Khoa kinh tế, đại học Boston, 270 Bay State, Boston, MA 00215, Hoa Kỳ, CEMA, Trung tâm đại học tài chính và kinh tế và AFR, đại học Triết Giang, Trung Quốc Tel: +1 617 353 6675, email: miaoj@bu. Miao), † Khoa kinh tế, đại học khoa học và kĩ thuật Hongkong, Clear Water Bay, Kowloon, Hong Kong, Tel.: +852 2358 7615, email: dxie@ust.hk 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Giới thiệu Thuật ngữ ảo giác tiền tệ mô tả cho hiện tượng con người nhầm lẫn giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực.
Khái niệm này đã được đặt ra bởi Irving Fisher trong cả cuốn sách của ông nói về chủ đề này (Fisher, 1928). Sự hiện diện của ảo giác tiền tệ thường làm xuất hiện tính bất quân bình trong ngắn hạn của tiền tệ đối với các kinh tế gia trường phái Keynesian và một số nhà lí thuyết định lượng như Fisher1. Tuy nhiên, ảo giác tiền tệ thường được xem như phi lí trí và gây thiệt hại kinh tế cho người đưa ra quyết định, vì vậy các nhà kinh tế đã không sử dụng ảo giác tiền tệ trong phân tích chính thức, ngoại trừ 2 kinh tế gia Akerlof and Yellen (1985b,a). Sự quan tâm đối với ảo giác tiền tệ đã được khơi lại bởi nhiều nghiên cứu cả thực nghiệm và kinh nghiệm từ giữa thập niên 1990, có thể kể đến các nghiên cứu lí thuyết của Akerlof et al.
(1996, 2000) về đường Phillips, Piazzesi and Schneider (2008) về thị trường nhà, và Basak and Yan (2010) về hành vi nhà đầu tư. Trong nghiên cứu này, chúng tôi mở rộng mô hình dựa trên sở thích của Basak and Yan (2010) và kết hợp sự mở rộng này vào một mô hình tăng trưởng nội sinh. Chúng tôi nghiên cứu làm thế nào sự hiện diện của ảo giác tiền tệ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế dài hạn. Tăng trưởng nội sinh được sử dụng thông qua mô hình AK một thời kì (one-sector AK framework) của Jones and Manuelli (1990) và Rebelo (1990).
Tiền tệ được đưa vào thông qua hàm MIU (mony-in-the-utility) của Sidrauski (1967a,b)2. Chúng tôi chỉ ra rằng ảo giác tiền tệ ảnh hưởng đến nhận thức của đổi tượng về tăng trưởng và khả năng mạo hiểm đối với tài sản thực, vì vậy làm sai lệch quyết định tiêu dùng/tiết kiệm của anh ta. Theo trực giác, tài sản thực bao gồm các cân bằng tiền tệ thực. Một đối tượng bị ảo giác tiền tệ đánh giá cả giá trị thực và giá trị danh nghĩa, vì vậy cả lạm phát kì vọng và lạm phát đều có ảnh hưởng một cách không chắc chắn đến các quy luật quyết định của anh ta.
Mô hình của chúng tôi dễ sử dụng và cho phép chúng tôi suy được các giải pháp cho mô hình đóng. Tuy vậy, nó cũng đủ đa dạng để cân chỉnh và đánh giá định lượng. Chúng tôi đã chứng minh được tổn thất phúc lợi của ảo 1 Theo các nhà kinh tế Keynesian (Keynes, 1936; Leontief, 1936), người lao động chịu ảnh hưởng của ảo giác tiền tệ. Nguồn cung lao động phụ thuộc vào mức lương danh nghĩa trong khi nguồn cầu phụ thuộc vào mức lương thực.
Một sự gia tăng trong mức giá sẽ nâng điểm cân bằng lao động. 2 Để củng cố kết quả, chúng tôi cũng phân tích mô hình theo giới hạn tiêu dùng cash- in-advance (CIA). Chúng tôi tìm được cùng một kết quả (xem phụ lục B) 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giác tiền tệ là một hàm số ít nhất bậc 2, trong khi tác động lên tăng trưởng kinh tế dài hạn là hàm số bậc 1 đối với biến số ảo giác tiền tệ. Khi áp dụng mô hình vào số liệu kinh tế hàng năm của Hoa Kỳ từ 1960 đến 2006, chúng tôi nhận ra rằng kể cả khi mức độ ảo giác tiền tệ là thấp, ví dụ đối tượng đại diện bị ảnh hưởng chỉ 5% giá trị danh nghĩa vào quá trình ra quyết định, thì khi đó tổn thất phúc lợi bị ảnh hưởng không đáng kể ở mức 0.06% thu nhập thực tế, trong khi ảo giác này làm giảm tỉ lệ tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận ở mức 0.11 điểm phần trăm.
Kết quả này bổ sung cho kết quả nghiên cứu của Basak and Yan (2010)3 , và làm gợi nhớ lại kết luận của Keynesian rằng một sự sai lệch nhỏ trong lí trí thuần túy chỉ làm phúc lợi tổn thất ở mức thấp, nhưng có thể có tác động đáng kể lên hậu quả kinh tế Akerlof (2002); Akerlof and Yellen (1985a); Mankiw (1985). Chúng tôi diễn giải trong lí thuyết, nhà ban hành chính sách tiền tệ có thể chọn mức tăng trưởng của cung tiền phù hợp để triệt tiêu tổn thất gây ra bởi ảo giác tiền tệ bằng cách điều chỉnh lại các sai lệch ở quyết định tiêu dùng/tiết kiệm. Chính sách tiền tệ này bao gồm cả một tỉ lệ lạm phát kì vọng khác 0 hoặc một lãi suất danh nghĩa hằng định sao cho sự sai lệch do việc đối tượng quan niệm sai lầm về tăng trưởng và rủi ro của tài sản thực bù trừ lẫn nhau. Có thể lập luận rằng ảo giác tiền tệ sẽ không còn trong mô hình dài hạn bởi vì khi đó đối tượng đã nhận thức được.
Tuy nhiên, như Shafir et al. (1997) đã lập luận, ảo giác tiền tệ xuất hiện trong phần lớn các trường hợp bởi vì một cá nhân suy nghĩ dựa trên giá trị danh nghĩa thì dễ dàng và tự nhiên hơn là suy nghĩ về giá trị thực. Khuynh hướng này tồn tại dai dẳng, mặc cho sự cố gắng của nhà kinh tế trong việc cải thiện nhận thức của công chúng. Akerlof et al.
(2000) đã sử dụng nhiều bằng chứng tâm lí học để chứng minh rằng chính lạm phát cao, chứ không phải thời gian, mới làm xua tan ảo giác tiền tệ. Lạm phát cao dễ bị chú ý nên người ta sẽ chủ động phân biệt sự khác nhau giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực. Kết quả định lượng của chúng tôi ủng hộ quan điểm tâm lí học này. Chúng tôi nhận thấy rằng tổn thất phúc lợi của ảo giác tiền tệ là nhỏ khi lạm phát thấp.
Tổn thất này tăng một cách không tuyến tính theo tỉ lệ lạm phát kì vọng và trở thành tổn thất lớn khi lạm phát cao. Mô hình của chúng tôi làm sáng tỏ quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát4. 3 Basak and Yan (2010) minh họa rằng tổn thất phúc lợi của ảo giác tiền tệ đối với nhà đầu tư là nhỏ trong một môi trường bình thường, trong khi tác động của nó lên cân bằng là đáng ghi nhận. 4 Chúng tôi lưu ý rằng cả lạm phát và tăng trưởng kinh tế đều nội sinh.
Mối quan hệ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi một số nhà nghiên cứu tìm được bằng chứng rằng mối quan hệ này nghịch biến (Barro, 1996; Chari et al., 1995), các nghiên cứu thực nghiệm khác chỉ ra rằng mối quan hệ này không bền vững (Bullard and Keating, 1995; Sarel, 1996; Bruno and Easterly, 1998; Dotsey and Sarte, 2000; Fischer et al., 2002; Khan and Ssnhadji, 2001). Chúng tôi chứng minh được mối quan hệ này phụ thuộc vào thái độ của đối tượng đại diện với rủi ro hoặc độ co dãn thay thế liên thời gian [elasticity of intertemporal substitution]5. Trong trường hợp đặc biệt, tăng trưởng và lạm phát quan hệ nghịch biến (đồng biến) khi độ lớn của tham số tránh rủi ro lớn hơn (nhỏ hơn) đơn vị. Mối quan hệ này độc lập khi độ lớn của tham số tránh rủi ro bằng đơn vị.
Phần tiếp theo của bài báo này được trình bày như sau. Trong phần 2, chúng tôi khảo sát các nghiên cứu có liên quan và chỉ ra tính phù hợp của mô hình của chúng tôi. Trong phần 3, chúng tôi nghiên cứu một mô hình MIU trong tăng trưởng nội sinh có sự hiện diện của ảo giác tiền tệ. Trong phần 4, chúng tôi phân tích các tác động định lượng của ảo giác tiền tệ và thảo luận về chính sách tiền tệ sao cho triệt tiêu được tổn thất phúc lợi gây ra bởi ảo giác tiền tệ.
Chúng tôi kết luận trong phần 5, các chứng minh và các chi tiết kĩ thuật được trình bày trong phần phụ lục.2 Các nghiên cứu liên quan Nghiên cứu của chúng tôi liên quan đến 2 xu hướng lí thuyết. Thứ nhất, nó liên quan đến lí thuyết về ảo giác tiền tệ, vào thời kì đầu của tiên của thế kỉ 206. Fisher (1928) định nghĩa ảo giác tiền tệ như là "một sự thất bại trong nhận thức đồng đô la, hay bất kì đơn vị tiền tệ nào, đang mở rộng hoặc thu hẹp giá trị". Leontief (1936) định nghĩa sẽ không có ảo giác tiền tệ nếu các hàm số cung và cầu cùng thuần nhất bậc 0 với giá danh nghĩa.
Điều này Leontief (1936) đã gọi là "nguyên lý thuần nhất" (homogeneity postulate). Bắt đầu từ Haberler and Haberler (1941), các tác giả khác đã sử dụng thuật ngữ ảo giác tiền tệ như là một khái niệm phá vỡ "nguyên lí thuần nhất" ở trên. Patinkin giữa chúng liên quan mật thiết đến mối quan hệ giữa tăng trưởng tiền tệ và tăng trưởng sản lượng bởi vì lạm phát được xác định bởi tăng trưởng tiền tệ. 5 Trong hàm tiện ích của chúng tôi, mức độ tránh rủi ro tương đối bằng nghịch đảo của độ co dãn thay thế liên thời gian.
6 Xem Howitt (1987) để có một tổng quan lí thuyết về ảo giác tiền tệ.