ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến và là một vấn đề quan trọng về sức khỏe cộng đồng ở tất cả các nƣớc trên thế giới. Bệnh thƣờng âm thầm không có triệu chứng hoặc triệu chứng rất nghèo nàn, nhƣng lại phát hiện một cách dễ dàng bằng cách đo huyết áp. Bệnh có xu hƣớng ngày càng tăng và có tỉ lệ tử vong cao do các biến chứng của THA nhƣ tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận,. Theo ƣớc tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có khoảng 1,5 tỷ ngƣời trên thế giới bị THA và có tới 9,4 triệu ngƣời mỗi năm trên toàn thế giới tử vong do nguyên nhân trực tiếp là THA.
Cứ3 ngƣời trƣởng thành (từ 25 tuổi trở lên) thì có 1 ngƣời bị THA,cứ 3 ngƣời bị THA thì có 1 ngƣời không biết mình bị THA, cứ 3 ngƣời đƣợc điều trị THA thì có 1 ngƣời không đạt huyết áp mục tiêu[22]. Ở nƣớc ta, theo một điều tra gần đây nhất của Viện Tim mạch Việt Nam tại 8 tỉnh/thành phố của nƣớc ta thì tỷ lệ THA của những ngƣời từ 25 tuổi trở lên đã là 25,1%, cứ 4 ngƣời trƣởng thành thì có 1 ngƣời bị THA [22]. Có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh tăng huyết áp nhƣ: tuổi cao, hút thuốc lá, uống nhiều rƣợu/bia, khẩu phần ăn không hợp lý (ăn mặn, ăn nhiều chất béo), ít hoạt động thể lực, béo phì, căng thẳng trong cuộc sống, rối loạn lipid máu, đái tháo đƣờng, tiền sử gia đình có ngƣời bị THA…[14]. Kiểm soát đƣợc các yếu tố nguy cơ có thể phòng tránh đƣợc bệnh THA, phần lớn các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát đƣợc nếu ngƣời dân có hiểu biết đúng và biết cách phòng tránh.
Các nghiên cứu cho thấy rằngthực hiện lối sống lành mạnh, khoa học là một trong các biện pháp chính để phòng ngừa THA cũng nhƣ góp phần điều trị bệnh THA, nhờ đó góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh THA trong cộng đồng [14]. Tuy nhiên, thực tế hầu hết ngƣời dân còn thiếu kiến thức, thực hành về căn bệnh này. Theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam (năm 2008-2009), đa số ngƣời dân (77%) hiểu sai về bệnh THA và các yếu tố nguy cơ của bệnh. Đây cũng là một trong các nguyên nhân để tỷ lệ bệnh THA ngày càng gia tăng ở nƣớc ta, THA không những là bệnh phổ biến mà còn là “kẻ giết ngƣời thầm lặng” [14].
2 Do vậy, phòng THA là vấn đề cần quan tâm của toàn xã hội. Tại Việt Nam phòng chống THA là một trong những chƣơng trình mục tiêu quốc gia về Y tế, hiện 63 tỉnh/thành đang triển khai dự án Phòng chống THA. Quy Nhơn là thành phố loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam, trong xu thế phát triển chung của cả nƣớc, kinh tế, đời sống ngƣời dân ngày càng cải thiện. Các phƣơng tiện di chuyển bằng động cơ đã thay cho xe đạp và đi bộ.
Sự ra đời của nhiều nhà máy, xí nghiệp, tình hình đô thị hóa mở rộng thành phố đã ngày càng thu hẹp dần diện tích đất canh tác, kéo theo sự xuất hiện ngày càng nhiều bếp ăn tập thể, các quán bán thức ăn nhanh, quán nhậu. dẫn đến sự thay đổi lối sống, thói quen ăn uống. Tất cả sự thay đổi đó đã hình thành những hành vi nguy cơ làm gia tăng một số bệnh mạn tính, trong đó có THA. Tại Thành Phố Quy Nhơn chƣơng trình Quốc gia phòng chống THA và bƣớc đầu đạt đƣợc những kết quả đáng khích lệ.
Tuy nhiên, khi tiến hành khảo sát nhanh 10 ngƣời dân đang sinh sống tại tai hai xã đảo, kết quả cho thấy chỉ có 3 ngƣời trong số 10 ngƣời đƣợc phỏng vấn hiểu đúng về các yếu tố nguy cơ, các biện pháp phòng chống cũng nhƣ mức độ nguy hiểm của bệnh bệnh THA. Đa số những ngƣời còn lại hiểu chƣa đúng hoặc chƣa đầy đủ về bệnh THA. Với phƣơng châm “ phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Chiến lƣợc dự phòng và kiểm soát các yếu tố nguy cơ cao và dựa vào cộng đồng là một bƣớc đột phá mang tính chiến lƣợc của các nƣớc đang phát triển.
Nghiên cứu nhằm xác định Thực trạng tăng huyết áp của ngƣời dân và kiến thức, thực hành phòng THA là vô cùng cần thiết. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tăng huyết áp và kiến thức, thực hành phòng tăng huyết áp của ngƣời dân từ 25 – 64 tuổi tại hai xã đảo Nhơn Châu, Nhơn Hội, thành phố Quy Nhơn, Bình Định năm 2014”. Kết quả của nghiên cứu nhằm giúp đƣa ra những khuyến nghị, giải pháp phù hợp, hiệu quả giúp ngƣời dân địa phƣơng nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ về bệnh và kiến thức, thực hành phòng THA nhằm hạn chế sự gia tăng và gánh nặng bệnh tật gây ra bởi các biến chứng của THA. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng tăng huyết áp ở ngƣời dân từ 25 - 64 tuổi tại hai Xã đảo Nhơn Châu, Nhơn Hội, thành phố Quy Nhơn, Bình Định năm 2014. Mô tả kiến thức, thực hành phòng THA của ngƣời dân từ 25-64 tuổi tại hai Xã đảo Nhơn Châu, Nhơn Hội, thành phố Quy Nhơn, Bình Định năm 2014. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng THA của ngƣời dân ở hai Xã đảo Nhơn Châu, Nhơn Hội, thành phố Quy Nhơn, Bình Định năm 2014. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm, định nghĩa và phân loại tăng huyết áp 1. Khái niệm Huyết áp (HA) Là áp lực máu trong động mạch thƣờng đƣợc đo ở động mạch cánh tay. Áp lực máu có trong động mạch là do tim co bóp đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch, đồng thời cũng do ảnh hƣởng của lực co bóp của thành mạch và kết quả là làm cho máu đƣợc lƣu thông đến các tế bào để cung cấp oxy và các chất dinh dƣỡng do nhu cầu toàn cơ thể. Khi tim co bóp tống máu, áp lực trong động mạch là lớn nhất, ta có HA tâm thu (HATT) còn gọi là HA tối đa (HATĐ).
Khi tim nghỉ, áp lực đó ở mức thấp nhất, ta có HA tâm trƣơng còn gọi là HA tối thiểu [4]. Định nghĩa tăng huyết áp Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một ngƣời lớn đƣợc gọi là THA khi HATĐ (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HATT (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần đƣợc bác sỹ chẩn đoán là THA [2],[3],[20]. Phân loại tăng huyết áp Phân loại THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây. Theo WHO/ISH (năm 2003) chia lại THA làm 3 độ [3],[6],[8],[20]: Bảng 1.
Phân độ THA theo WHO/ISH (năm 2003) Phân độ THA Huyết áp (mmHg) Tâm Thu Tâm Trƣơng THA độ I 140-159 90-99 THA độ II 160-179 100-109 THA độ III ≥180 ≥110 Liên Uỷ ban quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá, điều trị THA Hoa Kỳ (Join National Committee – JNC) lại đƣa phân loại hơi khác qua các kỳ họp (JNC IV 1988, JNC V 1993, JNC VI 1997) và gần đây JNC VII (năm 2003) chia THA nhƣ sau [16]: 5 Bảng 1. Phân độ THA theo JNC VII (năm 2003) Phân độ THA Huyết áp (mmHg) Tâm Thu Tâm Trƣơng Bình Thƣờng <120 <80 Tiền THA 120 – 139 80 – 89 THA Độ I 140 – 159 90 – 99 THA Độ II >160 >100 Cách phân loại THA tại Việt Nam: xuất phát từ cách phân độ THA của WHO/ISH và JNC, Hội tim mạch Việt Nam đã đƣa ra cách phân độ nhƣ sau [5]: Bảng 1. Phân loại tăng huyết áp tại Việt Nam hiện nay Phân độ THA Huyết áp (mmHg) Tâm Thu Tâm Trƣơng HA tối ƣu <120 <80 HA bình thƣờng 120-129 80-84 HA bình thƣờng cao 130-139 130-139 THA độ I (nhẹ) 140-159 90-99 THA độ II (vừa) 160-179 100-109 THA độ III (nặng) ≥180 ≥110 THA tâm thu đơn độc ≥140 <90 Nếu HATT và HATTr ở hai phân độ khác nhau tính theo trị số HA lớn hơn. Một số đặc điểm sinh lý về huyết áp Ở ngƣời bình thƣờngkhông phải lúc nào HA cũng ổn định, HA luôn thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố trong một thời gian nhất định, đó là sự thay đổi về sinh lý của HA, HA thay đổi theo trạng thái tâm lý: căng thẳng lo âu, bồn chồn, xúc động stress dễ dàng làm cho tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm làm giải phóng nhiều Adrenalin và Noadrenalin làm nhịp tim nhanh gây THA.
HA cũng thay đổi theo hoạt động của cơ thể. Khi cơ thể tăng cƣờng vận động nhu cầu oxy và năng lƣợng tăng để đảm bảo cho hoạt động đó, tim phải làm việc nhiều hơn bằng cách tăng tần số do đó làm THA. 6 Môi trƣờng làm việc nhiều tiếng ồn, không an toàn cũng làm thần kinh căng thẳng, lo lắng gây THA. Thời tiết thay đổi cũng ảnh hƣởng tới HA, lạnh nhiều thì mạch ngoại vi co làm HA tăng, nóng nhiều làm giãn mạch nên HA giảm… Tuy vậy những dao động HA nói chung vẫn trong giới hạn sinh lý bình thƣờng, chỉ khi có dao động thể lực quá nặng thì HA mới tăng cao hơn mức bình thƣờng quy định sau đó cơ thể lại tự điều chỉnh đƣa HA nhanh chóng trở về mức cũ [4].
Nguyên nhân, biểu hiện, biến chứng của tăng huyết áp 1.1 Tăng huyết áp nguyên phát THA nguyên phát chiếm tới 90% các trƣờng hợp [2], cơ chế sinh bệnh đến nay chƣa đƣợc rõ ràng, nhƣng đồng thời y học cũng chứng minh có một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh THA. Vì vậy để phòng bệnh THA, mỗi ngƣời nên cố gắng hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ gây bệnh THA sẽ đƣợc đề cập dƣới đây [8]: 1. Ăn mặn Ngƣời thƣờng hay ăn mặn, có nhiều chất muối natri chlorure thì nguy cơ mắc bệnh THA càng cao. Ngƣời dân ở vùng ven biển có tỷ lệ THA cao hơn so với ngƣời dân ở vùng đồng bằng và miền núi.
Tuy nhiên cũng có ngƣời ăn mặn, có nhiều chất muối nhƣng không bị THA. Ở những gia đình có tiền sử THA, có thói quen ăn nhiều chất muối ngay từ khi còn nhỏ sẽ có nguy cơ THA khi trƣởng thành. Nhiều bệnh nhân THA ở mức độ nhẹ chỉ cần thực hiện chế độ ăn giảm bớt chất muối thì có thể điều trị đƣợc bệnh. Chế độ ăn giảm bớt chất muối là một biện pháp quan trọng để điều trị cũng nhƣ phòng bệnh THA.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh nếu thực hiện chế độ ăn nhạt dƣới 6 gam muối mỗi ngày có thể làm giảm đƣợc huyết áp trung bình từ 4 đến 8 mmHg.