Tổng quan nghiên cứu

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) tại Việt Nam là bước đột phá về cơ chế tài chính nhằm huy động nguồn lực xã hội cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Tính đến năm 2018, diện tích đất có rừng trên toàn quốc đạt gần 14,5 triệu hecta, tạo sinh kế gắn liền cho hàng triệu người dân miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số. Sau giai đoạn thí điểm tại Lâm Đồng và Sơn La (2008–2010), chính sách được mở rộng trên quy mô toàn quốc theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP và tiếp tục được hoàn thiện qua Luật Lâm nghiệp năm 2017 cùng Nghị định 156/2018/NĐ-CP. Lũy kế nguồn thu dịch vụ môi trường rừng tính đến tháng 9/2018 đạt trên 7.026 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ quản lý và bảo vệ cho hơn 5 triệu hecta rừng lưu vực.

Tuy nhiên, quá trình thực thi bộc lộ nhiều điểm nghẽn: tình trạng nợ đọng kéo dài từ các cơ sở sử dụng dịch vụ, cơ cấu tổ chức thiếu đồng nhất giữa 44 Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh (gồm 11 Quỹ trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và 33 Quỹ trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cùng với nguồn thu chủ yếu phụ thuộc vào thủy điện. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá toàn diện 10 năm tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF) giai đoạn 2008–2018, làm rõ nguyên nhân của các tồn tại thể chế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vị thế, năng lực điều phối của Quỹ trung ương. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc tối ưu hóa cơ chế điều tiết tài chính, bảo đảm công bằng trong phân phối lợi ích cho 66.221 hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế học môi trường và công cụ dựa vào thị trường (Market-based Instruments) về chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) theo định nghĩa của Wunder (2005) và Tacconi (2012). Cốt lõi của mô hình là giao dịch tự nguyện hoặc ủy thác có điều kiện, trong đó bên sử dụng dịch vụ (FES users) trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ (FES providers) để duy trì các chức năng sinh thái của rừng.

Khung phân tích thực thi chính sách công (Public Policy Implementation Framework) được vận dụng để mổ xẻ cấu trúc vận hành của VNFF dưới tư cách định chế tài chính nhà nước hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính theo Nghị định 05/2008/NĐ-CP, Thông tư 04/2018/TT-BTC và Nghị định 156/2018/NĐ-CP. Nghiên cứu hệ thống hóa 5 nhóm dịch vụ môi trường rừng chính, đồng thời phân tích cơ chế trích lập phí quản lý với tỷ lệ 0,5% tại Quỹ trung ương và 10% tại Quỹ cấp tỉnh cùng 5% quỹ dự phòng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả và phân tích đối sánh thể chế. Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các báo cáo tổng kết 8 năm (2008–2015), 10 năm (2008–2018) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, dữ liệu điều tra lâm nghiệp quốc gia và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích với tổng quy mô mẫu gồm 120 phiếu khảo sát và bảng hỏi chuyên sâu. Đối tượng khảo sát bao gồm 15 cán bộ Cơ quan điều hành VNFF, đại diện lãnh đạo từ 44 Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh, các doanh nghiệp thủy điện và nước sạch lớn, cùng các chuyên gia chính sách độc lập. Phương pháp phân tích SWOT và phân tích nội dung chuyên sâu được lựa chọn nhằm bóc tách toàn diện điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức nội tại của bộ máy điều hành trong khung thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự chênh lệch lớn về quy mô dòng tiền giữa Quỹ trung ương và Quỹ địa phương. Lũy kế đến tháng 9/2018, VNFF chỉ ký 92 hợp đồng ủy thác lưu vực liên tỉnh nhưng thu về 5.058 tỷ đồng (chiếm 72% tổng nguồn thu toàn quốc). Ngược lại, 44 Quỹ cấp tỉnh ký tới 521 hợp đồng ủy thác nội tỉnh nhưng chỉ thu được 1.968 tỷ đồng (chiếm 28% tổng nguồn thu). Riêng năm 2018, tổng số tiền chi trả đạt 2.937,9 tỷ đồng, trong đó VNFF thu 2.059,9 tỷ đồng và các Quỹ tỉnh thu 878 tỷ đồng.

Thứ hai, cơ cấu dịch vụ thu tiền bị mất cân đối nghiêm trọng. Trong tổng số 613 hợp đồng ủy thác toàn hệ thống tính đến tháng 10/2018, ngành thủy điện chiếm áp đảo với 387 hợp đồng (63,1%), các cơ sở sản xuất nước sạch chiếm 150 hợp đồng (24,5%), dịch vụ du lịch sinh thái chiếm 76 hợp đồng (12,4%). VNFF chưa ký được hợp đồng nào với các doanh nghiệp du lịch liên tỉnh, đồng thời dịch vụ hấp thụ carbon và nuôi trồng thủy sản vẫn trong giai đoạn thí điểm hoặc chưa thể thương mại hóa.

Thứ ba, chính sách tạo chuyển biến rõ nét trong phân phối nguồn thu bảo vệ rừng. Trong năm 2018, tiền dịch vụ môi trường rừng đã giải ngân cho 152 Ban quản lý rừng phòng hộ (592,4 tỷ đồng với 1,757 triệu ha), 75 Ban quản lý rừng đặc dụng (250,8 tỷ đồng với 1,148 triệu ha), 79 công ty lâm nghiệp (172,5 tỷ đồng với 657,8 nghìn ha), 396 Ủy ban nhân dân cấp xã (97,2 tỷ đồng với 1,838 triệu ha) và 66.221 hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ 731 nghìn ha với tổng kinh phí 178,4 tỷ đồng.

Thứ tư, bộ máy điều hành của VNFF đối mặt với áp lực quá tải nghiêm trọng khi chỉ có 15 cán bộ (trong đó có 5 công chức làm việc kiêm nhiệm) để quản lý, điều phối dòng tài chính hàng nghìn tỷ đồng và thực hiện giám sát kỹ thuật trên phạm vi cả nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng nợ đọng xuất phát từ tính dễ tổn thương của ngành thủy điện trước biến đổi khí hậu; hiện tượng khô hạn kéo dài làm suy giảm lưu lượng nước phát điện, khiến nhiều nhà máy chậm nộp tiền ủy thác. Mặt khác, các chế tài xử phạt hành chính theo Nghị định 41/2017/NĐ-CP chưa đủ tính cưỡng chế đối với các đơn vị cố tình chây ì.

Khi so sánh với mô hình FONAFIFO của Costa Rica (nơi huy động nguồn lực từ thuế nhiên liệu và chứng chỉ bảo tồn rừng để nâng độ che phủ từ dưới 30% lên 54% vào năm 2015) hay chính sách thuế môi trường rừng tại 30 tỉnh của Nhật Bản, cơ chế của Việt Nam bộc lộ điểm yếu khi phụ thuộc tới hơn 90% vào nguồn thu thủy điện. Các dữ liệu phân tích này có thể được biểu diễn rõ ràng qua biểu đồ cột kép so sánh nguồn thu giữa VNFF và các Quỹ tỉnh qua các năm, cùng biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguồn thu theo loại hình dịch vụ môi trường rừng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đa dạng hóa nguồn thu và hoàn thiện định mức chi trả. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn thực thi mức thu 50 đồng/m3 đối với nước sản xuất công nghiệp và 1% doanh thu đối với nuôi trồng thủy sản theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP, đồng thời xây dựng đề án thương mại hóa dịch vụ hấp thụ carbon rừng nhằm nâng tỷ trọng thu ngoài thủy điện lên mức 35% trước năm 2025.

Thứ hai, kiện toàn cơ cấu tổ chức và nâng cao năng lực nhân sự Quỹ VNFF. Ban Quản lý Quỹ cần nâng tổng số lượng biên chế chuyên trách từ 15 lên 25–30 cán bộ trong giai đoạn 2020–2023; thành lập 4 phòng chuyên môn độc lập gồm Phòng Kế hoạch – Tài chính, Phòng Kỹ thuật – Giám sát Đánh giá, Phòng Truyền thông – Hợp tác quốc tế và Phòng Pháp chế, đồng thời sớm kích hoạt quỹ nhánh REDD+.

Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số và chuẩn hóa quy trình thanh toán không dùng tiền mặt. VNFF chỉ đạo 44 Quỹ cấp tỉnh phối hợp với hệ thống ngân hàng thương mại và đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông hoàn thành mục tiêu 100% chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng qua tài khoản ngân hàng và ví điện tử cho 66.221 chủ rừng hộ gia đình và 396 Ủy ban nhân dân cấp xã trước năm 2025.

Thứ tư, xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá (M&E) dựa trên công nghệ WebGIS và viễn thám. Tổng cục Lâm nghiệp chỉ đạo VNFF hoàn thiện bộ chỉ số theo dõi biến động tài nguyên rừng trên diện tích 5 triệu hecta lưu vực chi trả, bảo đảm độ chính xác trong phân định diện tích rừng cung ứng dịch vụ đạt trên 95% vào năm 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp trung ương (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Nghiên cứu cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, điều chỉnh các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Lâm nghiệp năm 2017 và Nghị định 156/2018/NĐ-CP.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo cùng cán bộ chuyên môn tại Quỹ VNFF và 44 Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh. Tài liệu cung cấp góc nhìn tham chiếu toàn diện về kinh nghiệm quản trị quỹ ủy thác, quy trình xử lý nợ đọng tài chính và kỹ thuật kiểm tra, giám sát lưu vực liên tỉnh.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường rừng (hơn 387 nhà máy thủy điện, 150 công ty cấp nước sạch, các đơn vị kinh doanh du lịch). Luận văn giúp doanh nghiệp hiểu rõ căn cứ pháp lý, phương pháp xác định lưu vực và trách nhiệm trích nộp theo đơn giá quy định (36 đồng/kWh thủy điện và 52 đồng/m3 nước sạch).

Nhóm thứ tư là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế môi trường. Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị với chuỗi dữ liệu thực chứng 10 năm (2008–2018) và các bài học kinh nghiệm quốc tế từ Costa Rica, Nhật Bản, Trung Quốc và Campuchia.

Câu hỏi thường gặp

Quỹ VNFF đóng vai trò gì trong cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam?

VNFF là định chế tài chính nhà nước thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giữ vai trò đầu mối trung ương ký kết các hợp đồng ủy thác lưu vực liên tỉnh, điều phối dòng tiền chi trả từ bên sử dụng sang bên cung ứng dịch vụ, đồng thời kiểm tra, giám sát và hỗ trợ kỹ thuật cho 44 Quỹ cấp tỉnh.

Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng được điều chỉnh như thế nào qua các giai đoạn?

Theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP, tiền dịch vụ thủy điện tăng từ 20 đồng/kWh lên 36 đồng/kWh; nước sạch tăng từ 40 đồng/m3 lên 52 đồng/m3. Đồng thời, chính sách bổ sung mức thu 50 đồng/m3 đối với nước dùng cho sản xuất công nghiệp và 1% doanh thu đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản.

Vì sao nguồn thu dịch vụ môi trường rừng phụ thuộc lớn vào ngành thủy điện?

Thủy điện chiếm tới 387 trong tổng số 613 hợp đồng ủy thác đã ký và đóng góp trên 90% tổng số tiền thu được. Nguyên nhân do cơ chế đo đếm sản lượng điện thương phẩm rõ ràng, hạ tầng quản lý vận hành ổn định, trong khi các dịch vụ khác như du lịch, carbon hay thủy sản chưa được triển khai đồng bộ.

Sự thiếu đồng nhất về cơ cấu tổ chức của 44 Quỹ tỉnh gây ra khó khăn gì?

Thực tế có 11 Quỹ trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và 33 Quỹ trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dẫn đến sự khác biệt lớn về thẩm quyền ra quyết định, phân bổ biên chế và cơ chế tự chủ tài chính, gây trở ngại cho VNFF trong việc chỉ đạo thống nhất các quy chế nghiệp vụ.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào từ Costa Rica và Nhật Bản có thể áp dụng cho VNFF?

Costa Rica cho thấy tầm quan trọng của việc đa dạng hóa nguồn tài chính qua thuế nhiên liệu và sự tham gia của khối tư nhân tại FONAFIFO. Nhật Bản cung cấp bài học về thuế môi trường rừng tại 30 tỉnh và cơ chế doanh nghiệp đàm phán trả tiền trực tiếp cho người dân để bảo vệ nguồn nước ngầm.

Kết luận

  • Luận văn đã tổng kết sâu sắc 10 năm thực thi chính sách (2008–2018), chứng minh vai trò trụ cột của Quỹ VNFF trong việc huy động trên 7.026 tỷ đồng, bảo vệ hơn 5 triệu hecta rừng và hỗ trợ sinh kế cho 66.221 chủ rừng hộ gia đình.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các hạn chế cốt lõi về thể chế: sự chênh lệch nguồn thu (VNFF chiếm 72% với chỉ 92 hợp đồng), sự mất cân đối dịch vụ thu tiền và áp lực quá tải của bộ máy chỉ với 15 nhân sự.
  • Đóng góp khoa học của đề tài là xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ: tái cơ cấu nhân sự lên 25 cán bộ chuyên trách, mở rộng sang dịch vụ carbon và thủy sản, áp dụng 100% thanh toán điện tử.
  • Lộ trình thực hiện khuyến nghị được xác định cụ thể trong giai đoạn 2020–2025, gắn liền với việc ứng dụng công nghệ WebGIS trong giám sát tài nguyên rừng và hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính.
  • Kêu gọi sự phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa các bộ, ngành trung ương, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ nhằm bảo đảm tài chính lâm nghiệp bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia.