CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.1 Đơn vị sự nghiệp công lập 1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập 1.1 Đơn vị sự nghiệp công lập Theo đại từ điển Kinh tế thị trường: “Đơn vị sự nghiệp là đơn vị không có tính chất xí nghiệp, lấy phát triển kinh tế, văn hoá và phúc lợi xã hội làm mục tiêu, như hồ chứa nước, trạm giống (cây, con), các trạm phổ biến khoa học kỹ thuật, trạm thuỷ văn, trạm khí tượng, trường học, bệnh viện, công viên, phát thanh truyền hình, các cơ quan nghiên cứu v.v… Nhân viên các đơn vị sự nghiệp thuộc sở hữu toàn dân thuộc biên chế sự nghiệp. Nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào cấp phát kinh phí sự nghiệp của NSNN, một phần dựa vào thu nhập bản thân của hoạt động sự nghiệp”. Trong Điều lệ quản lý đăng ký đơn vị sự nghiệp của Quốc vụ viện Trung Quốc, đơn vị sự nghiệp được định nghĩa là: Tổ chức xã hội hoạt động vì mục đích công ích trong giáo dục, khoa học, văn hoá, y tế … do cơ quan Nhà nước thành lập hoặc do cơ quan khác thành lập nhưng dùng tài sản Nhà nước. Theo quy định của luật pháp: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước.
Từ khái niệm đã nêu ở trên tác giả luận văn rút ra khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập như sau: Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị sự nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng để thực hiện các hoạt động sự nghiệp nhằm cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, sự nghiệp kinh tế nông lâm ngư nghiệp, nghiên cứu khoa học thuỷ lợi… trong quá trình hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập được Nhà nước cho phép tạo lập nguồn thu thông qua các khoản thu như thu phí, lệ phí, hay các khoản thu từ hoạt động sản 123doc 8 xuất kinh doanh, dịch vụ để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên.2 Đơn vị sự nghiệp công lập tài nguyên môi trường Từ khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập, Đơn vị sự nghiệp công lập tài nguyên môi trường có thể hiểu là các đơn vị sự nghiệp do Nhà nước thành lập hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên môi trường nhằm cung cấp dịch vụ công cho xã hội mà không vì mục đích sinh lợi. Trong quá trình hoạt động các đơn vị sự nghiệp này được Nhà nước cho phép thu các loại phí, lệ phí, hay các khoản thu từ hoạt động dịch vụ… để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên chức và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị.2 Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập tài nguyên Môi trường. Thứ nhất, những hoạt động của các đơn vị này có tính chất xã hội, khác với những loại hình dịch vụ thông thường, nó phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xã hội, hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác động trực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội. Hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập tài nguyên môi trường luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước tổ chức, duy trì hoạt động sự nghiệp để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội Thứ hai, việc trao đổi dịch vụ công giữa các đơn vị sự nghiệp và các tổ chức, cá nhân không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ, nghĩa là nó không giống với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Có những dịch vụ mà người sử dụng chỉ phải đóng phí hoặc lệ phí, có những dịch vụ thì phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí. Tuy nhiên, cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Thứ ba, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập không trực tiếp phục vụ cho quản lý hành chính nhà nước, không mang tính quyền lực pháp lý như hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.
Nó được phân biệt với hoạt động quản lý nhà nước. 123doc 9 Thứ tư, đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu thường xuyên từ hoạt động sự nghiệp bởi vậy nó khác với cơ quan quản lý hành chính ở chỗ mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước và được tự chủ về mặt tài chính, không phụ thuộc vào cơ chế xin cho như trước. Vai trò đơn vị sự nghiệp công lập trong nền kinh tế thị trường Tác động mãnh mẽ và lâu dài tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định đến năng suất lao động xã hội. Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân: Cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hoá, đất đai.
có chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Góp phần quan trọng trong việc phát triển toàn diện đời sống kinh tế xã hội của đất nước: Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp góp phần quan trọng trong việc phát triển toàn diện đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Các đơn vị có hoạt động sự nghiệp sẽ đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người dân là được cung ứng các dịch vụ công cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ; khám chữa bệnh bảo vệ sức khoẻ nhân dân, nghiên cứu và ứng dụng kết quả khoa học công nghệ; cung cấp các sản phẩm tài nguyên môi trường, văn hoá, nghệ thuật.
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nâng cao ý thức cộng đồng xã hội của các tầng lớp nhân dân. Góp phần thực hiện công bằng xã hội, nâng cao ý thức cộng đồng xã hội của các tầng lớp nhân dân. Thông qua chi NSNN cho các hoạt động sự nghiệp, Chính phủ đã đảm bảo kinh phí cho các ngành, các lĩnh vực này có khả năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ công đáp ứng cho nhu cầu xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách được Thủ hưởng lợi ích của các hàng hoá, dịch vụ công được cung ứng.
Đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công lập đều có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương 123doc 10 trình lớn phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Qua việc cung cấp các dịch vụ công, dịch vụ sản xuất kinh doanh, các đơn vị sự nghiệp công lập Tài nguyên môi trường sẽ tự đảm bảo chi phí hoạt động, giảm gánh nặng chi tiêu ngân sách và hướng đến đóng góp tăng thu cho NSNN. Thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của Nhà nước đã góp phần tăng cường nguồn lực cùng với NSNN đẩy mạnh đa dạng hoá và xã hội hoá nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, trong thời gian qua các đơn vị sự nghiệp ở tất cả các lĩnh vực đã tích cực mở rộng các loại hình, phương thức hoạt động, một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.
Đồng thời qua đó cũng thu hút sự đóng góp của nhân dân đầu tư cho sự phát triển của hoạt động sự nghiệp, của xã hội.2 Cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính Cơ chế tự chủ tài chính có thể khái quát đó là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và giữa cơ quan chủ quản với cơ quan quản lý Nhà nước. Cơ chế tự chủ tài chính còn là mối quan hệ tài chính theo phân cấp: Giữa Chính phủ với các Bộ, ngành, địa phương; Giữa Bộ chủ quản, Bộ quản lý ngành với các đơn vị trực thuộc ở Trung ương, giữa UBND tỉnh với các địa phương; giữa các đơn vị sự nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước với các bộ phận, đơn vị dự toán trực thuộc. Về cơ bản cơ chế tự chủ tài chính là một trong những phương thức của cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công nói chung với mục tiêu tự chủ tài chính.
Theo Ngân hàng thế giới, mục tiêu “tự chủ”, trong đó có tự chủ về tài chính là những cải cách đem lại cho các cơ quan cung ứng dịch vụ công có quyền tự chủ nhiều hơn và dựa vào những khuyến khích của thị trường hoặc “tương tự thị trường” để thúc đẩy cải thiện hiệu quả hoạt động của mình. Những cải cách này 123doc 11 cũng tạo nên các quy tắc trách nhiệm gián tiếp, cho phép nhà quản lý ngày càng có nhiều tự do trong hoạt động điều hành hàng ngày. Trách nhiệm liên quan đến các dịch vụ bị thua lỗ và các chức năng xã hội khác cũng được làm rỏ hơn, và thường có nguồn vốn để đảm bảo cung ứng dịch vụ liên tục. Các đơn vị sự nghiệp có thu được tự chủ tài chính, được chủ động bố trí kinh phí thực hiện nhiệm vụ được giao, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên do NSNN cấp (với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên) trong thời gian 3 năm.
Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét lại cho phù hợp. Đơn vị sự nghiệp có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật.