Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Quyền công tố 1. Khái niệm quyền công tố "Công tố" là từ ghép Hán - Việt, được hình thành bởi hai từ đơn "công" và "tố".
Theo Đại từ điển tiếng Việt, "công" có nghĩa là "thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư" [51, tr.453], còn "tố" có nghĩa là "nói về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người" [51, tr.459]; "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án" [51, tr. Như vậy, có thể thấy công tố là một khái niệm đề cập đến các nội dung về điều tra, truy tố, buộc tội người phạm tội trước Tòa án. Trong đó bên thực hiện buộc tội là nhân danh Nhà nước, nhân danh lợi ích công để tố cáo, đưa người có hành vi phạm tội ra trước Tòa án để xét xử. Khác với tư tố, là tự mình nhân danh lợi ích cá nhân, riêng tư để tố cáo, khởi kiện ra Tòa án để đề nghị Tòa án bảo vệ quyền lợi cho riêng mình.
Quyền công tố là một khái niệm pháp lý. Ở Việt Nam chế định quyền công tố chưa được giải thích chính thức trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mới chỉ đề cập trong các bài giảng, các luận văn, đề tài khoa học và một số sách, tạp chí nghiên cứu luật học. Nhưng trên thực tế quyền năng công tố đã được thực hiện từ khi nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, khi đó chức năng công tố thuộc hệ thống Tòa án do các Thẩm phán buộc tội đảm nhiệm. Sau đó trong các Tòa án đều có bộ phận "Công tố viện" chuyên thực hiện chức năng công tố.
Công tố viện do Công tố 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ủy viên phụ trách. Tại phiên họp ngày 29/4/1958 kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa I đã quyết định chia tách và thành lập một số cơ quan nhà nước, trong đó có việc thành lập Tòa án tối cao và hệ thống tòa án, thành lập Viện công tố Trung ương và hệ thống Viện công tố. Cả hai cơ quan tách khỏi Bộ Tư pháp và đều là các cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn ngang Bộ trực thuộc Chính phủ. Ngày 01/07/1959 Chính phủ ban hành Nghị định 256/TTg quy định về nhiệm vụ và tổ chức Viện công tố Trung ương và hệ thống Viện công tố, đây là tổ chức tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân.
Tại phiên họp ngày 15/7/1960, kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa II đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và ngày 26/7/1960 Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố luật này. Kể từ đó đến nay quyền công tố do Viện kiểm sát nhân dân đảm nhiệm. Thuật ngữ “Quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp 1980, sau đó tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002. Hiện nay, vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau về quyền công tố.
Có thể khái quát lại một số quan điểm về quyền công tố như sau: Quan điểm thứ nhất: Là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đều là thực hành quyền công tố. “Những người theo quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân. Theo họ, công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát” [18, tr. Theo tác giả, quan điểm này đã đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát và như vậy là không chính xác 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bởi vì thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật là hai chức năng hoàn toàn độc lập của Viện kiểm sát nhân dân.
Mặc dù trong quá trình thực hiện hai chức năng này, có thể có những nội dung đan xen nhau, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau nhưng không phải trong mọi công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, trong mọi hoạt động thực hiện chức năng của Kiểm sát viên đều bao hàm cả hai chức năng đó, có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật. Vì vậy, không thể phủ nhận tính độc lập của hai chức năng này về cả nội dung lẫn phạm vi áp dụng và vì vậy không thể đồng nhất chúng. Quan điểm thứ hai: “Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; Ở Việt Nam, quyền này được giao cho Viện kiểm sát nhân dân” [18, tr. Quan điểm này có thể coi là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của ngành kiểm sát và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành kiểm sát.
Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến nay thì quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn có cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác. Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng khác của Viện kiểm sát trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…). Quan điểm thứ ba cho rằng, “quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức đó vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm kinh tế, vi phạm hình sự. Và quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó” [20, tr.
Theo quan điểm này, quyền công tố chỉ thuộc về Nhà nước, Nhà nước không thể không thực hiện quyền công tố khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, người có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời Nhà nước là chủ thể tham gia và nhiều quan hệ pháp luật khác nhau. Với tính cách là một quyền năng của Nhà nước, quyền công tố được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật, bao gồm tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính. Theo quan điểm trên, quyền công tố trong các hoạt động tố tụng được biểu hiện cụ thể ở các quyền của Viện kiểm sát như quyền khởi tố vụ án (dân sự, kinh tế, hành chính, lao động, hình sự), quyền tham gia tố tụng từ tất bất cứ giai đoạn tố tụng nào khi xét thấy cần thiết (dân sự, kinh tế.), quyền yêu cầu Toà án hoặc tự mình điều tra xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án. Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [1, tr.
Theo quan điểm này thì quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm; quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong tố tụng hình sự; ở nước ta, quyền công tố được Nhà nước giao cho duy nhất Viện kiểm sát nhân dân, không có bất cứ cơ quan nào có thể thay thế được. Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có rất nhiều quan 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm khác nhau. Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập. Hoặc là đánh đồng quyền công tố với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi quyền công tố chỉ là quyền năng của Viện kiểm sát trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài tố tụng hình sự; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố… Từ những phân tích ở trên, để xây dựng được khái niệm quyền công tố chính xác, khoa học thì phải dựa trên các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các quy định hiện hành của pháp luật và thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp Việt Nam.
Theo tác giả, việc xây dựng khái niệm quyền công tố cần phải dựa trên những nguyên tắc sau: - Quyền công tố phải là quyền của Nhà nước, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và thay đổi theo bản chất của Nhà nước. Được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là Viện kiểm sát nhân dân), nhằm xác định tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan Viện kiểm sát phải có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa. - Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự, với đối tượng là tội phạm và người phạm tội mà không có trong các lĩnh vực khác như tố tụng dân sự, hành chính.