Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ NHỰA SINH HỌC 1. Giới thiệu về nhựa sinh học Từ những năm 1950, thuật ngữ nhựa sinh học (bioplastic) xuất hiện nhằm để chỉ các loại polyme có khả năng bị phân hủy trong tự nhiên do các tác động của các loại vi sinh vật như các vi khuẩn, nấm mốc, xạ khuẩn và các enzyme.
Từ “nhựa sinh học” thường được sử dụng để phân biệt với các polyme hóa dầu, điều này gây hiểu nhầm một phần, vì không phải tất cả các loại nhựa sinh học đều có nguồn gốc sinh học và có thể phân hủy sinh học [1, 2] vì có một số chất dẻo sinh học có thể phân hủy sinh học nhưng có nguồn gốc từ hóa thạch. Cấu trúc hóa học của chúng có thể bị phân hủy trong một quá trình lâu dài được xúc tác bởi các enzym của một số vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí phân bố rộng rãi trong các hệ sinh thái khác nhau. Tuy nhiên, chúng không bị phân hủy sinh học trong cơ thể động vật và đôi khi chúng vẫn tồn tại trong nước biển, đất… [1, 2, 3]. Vì thế, chỉ duy nhất nhựa sinh học có nguồn gốc sinh học có khả năng phân hủy sinh học mới thân thiện hơn về mặt sinh thái và là chất thay thế tốt nhất cho nhựa thông thường.
Hiện nay có rất nhiều loại nhựa sinh học được biết đến như: nhựa nhiệt dẻo từ tinh bột, PLA (acid polylactic), PHA (poly- hydroxyalkanoate), polyamide 11 (PA 11),… Trong số đó, một trong những loại nhựa sinh học được quan tâm nhất là polyeste polyhydroxyalkanoate (PPHA) được sản xuất thông qua quá trình lên men công nghiệp từ đường hoặc lipid của nhiều vi khuẩn gram âm và gram dương. PHA (polyhydroxyalkanoate) là một họ của các biopolyester được tích lũy nội bào trong các vi sinh vật khác nhau với cấu trúc đa dạng [4, 5, 6], có tính chất cơ học tương tự như nhựa hóa dầu nhưng đặc biệt là có khả năng phân hủy sinh học. Các polyester tái tạo này có thể được sản xuất bởi các vi sinh vật khác nhau để đáp ứng với các điều kiện nuôi cấy khác nhau như: dư thừa carbon, hoặc hạn chế nitơ, lưu huỳnh, phosphate hoặc oxy… [7, 8] nhằm cung cấp năng lượng dự trữ bảo vệ tế bào khỏi tình trạng đói dinh dưỡng và điều kiện khắc nghiệt [9]. n 4 PHA không tan trong nước và được lưu trữ trong tế bào chất dưới dạng các hạt.
Thành phần đơn phân của PHA phụ thuộc chủ yếu vào vi khuẩn và nguồn carbon nuôi cấy. Ngoài vai trò chức năng là nguồn năng lượng dự trữ, sự hiện diện của PHA trong tế bào chất đóng vai trò tăng đề kháng của vi sinh vật dưới các điều kiện bất lợi như thay đổi áp suất thẩm thấu, pH, nhiệt độ và khi vi sinh vật tiếp xúc với hóa chất độc hại. PHA dự kiến sẽ thay thế một số loại nhựa hóa học ngày nay, do tính tương thích sinh học, khả năng phân hủy sinh học, có đặc tính của nhựa nhiệt dẻo, không tan trong nước và các tính chất cơ học của chúng (ví dụ: tính đàn hồi, tính linh hoạt, v. Chính vì vậy, PHA đã thu hút rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực ứng dụng y sinh [8], trong các ngành công nghiệp bao gói, dược, nông nghiệp, và công nghiệp thực phẩm [15].
Ảnh hiển vi điện tử của tế bào vi khuẩn Bacillus megaterium DV01 chứa các hạt PHA 1. Phân loại PHA PHA là một nhóm các polyester có cấu trúc hóa học đa dạng được hình thành từ các đơn phân hydroxyalkanoic axit (HA) được gắn với nhau nhờ liên kết ester và hiện nay khoảng 155 dạng đơn phân được xác định là thành phần cấu trúc nên các PHA được tìm thấy [12]. Trong đó, các axit 3-hydroxyalkanoic (3HA) đã bão hòa là các đơn phân thường gặp nhất trong cấu trúc của PHA. Bên cạnh đó chúng ta có thể gặp các dạng axit 3- hydroxyalkanoic chưa bão hòa, có chứa nhánh hoặc các nhóm thế.
Số nguyên tử C trong các đơn phân thường dao động từ 4-14 [16]. n 5 Dựa vào cấu trúc hóa học của các monomer có thể chia thành ba nhóm PHA đó là các PHA có chiều dài chuỗi ngắn (short chain length PHA – scl PHA), với các monomer bao gồm từ 3 - 5 nguyên tử cacbon, PHA có chiều dài trung bình (medium chain length – mcl PHA) gồm các monomer bao gồm 6- 15 nguyên tử carbon, và dạng thứ 3 là các PHA có chiều dài chuỗi dài (long chain length PHA - lcl PHA) với các monomer có cấu trúc dài với trên 15 nguyên tử cacbon [8, 17]. Dựa trên các thành phần của đơn phân và trật tự sắp xếp của chúng, PHA có thể được phân thành: polymer đồng hình (homopolymer) được hình thành từ một monomer lặp đi lặp lại (PHB, PHV, .); copolymer ngẫu nhiên được hình thành từ ít nhất hai homopolymer khác nhau liên kết cộng hóa trị như copolyme scl, copolyme mcl và scl-mcl-PHA copolyme hoặc block copolymer (poly (3- hydroxybutyrate-co-4- hydroxybutyrate/P3HB4HB, poly 3-hydroxybutyrate-co-3- hydroxyvalerate/PHBV, poly 3-hydroxybutyrate-co-3-hydroxyhexanoate/ PHBHHx,. Đặc tính đa dạng cấu trúc của các thành viên trong nhóm PHA được tạo thành phụ thuộc vào một số yếu tố bao gồm: các loại monomer, tỷ lệ monomer trong copolymer, sắp xếp cấu trúc polymer bao gồm homopolymer, copolymer ngẫu nhiên, các nhóm chức trong chuỗi bên polymer [18].
Bên cạnh đó, việc cấu tạo thành phần như loại PHA cũng như tỷ lệ của các monomer cũng gây ảnh hưởng đến tính chất của PHA khi polyme đồng nhất của scl-PHA như P3HB (polyhydroxybutyrate) là vật liệu giòn và cứng, trong khi copolymer của mcl-PHA đã được cải thiện tính đàn hồi. Hiện nay, các chất đồng trùng hợp khác nhau như poly(3-hydroxybutyrate) [P(3HB)] [19], poly(3- hydroxybutyrate-co-3-hyroxyvalerate [P(3HB-co-3HV)] [20], poly(3- hydroxybutyrate-co-4-hydroxybutyrate) [P(3HB-co-4HB)], poly (3- hydroxybutyrate-co-3-hydroxyhexanoate) [P(3HB-co-3HHx)] [22] và PHA có chiều dài chuỗi trung bình (mcl-PHA) [23, 24] đã được quan tâm. Một số loại PHA đơn được nghiên cứu ngày nay như: polyhydroxyvalerate (PHV) thu được từ P. oleovorans, polyhydroxyhexanoate (PHHx) từ P.
putida KTHH03, polyhydroxyheptanoate (PHHp) từ P. putida, Polyhydroxyoctanoate (PHO) từ Streptmoyces lividans…Trong đó polyhydroxybutyrate (PHB) là loại bioplastic được nghiên cứu nhiều nhất. Ngoài các PHA trọng lượng phân tử cao được lưu giữ dưới dạng hạt dự trữ nội bào, một dạng PHA khác có trọng lượng phân tử thấp hơn và phức tạp n 6 hơn so với các đại phân tử khác (được gọi là c-PHB: complex PHB) đã được phát hiện trong các tế bào prokaryote và eukaryote [25]. c-PHB chỉ được tìm thấy ở nồng độ thấp trong tế bào hoặc nằm trong màng tế bào.
c-PHB tạo phức với canxi polyphosphate và được gắn trong màng vi khuẩn có thể tạo thành các kênh ion và cũng có thể liên quan đến khả năng của các tế bào vi khuẩn ví dụ như khả năng tiếp nhận DNA của chúng. Tuy nhiên thông tin về sinh tổng hợp c-PHB còn nhiều hạn chế. Trong một nghiên cứu gần đây, protein YdcS đã được xác định trong Escherichia coli thể hiện hoạt tính của PHB synthase. Phân tích cấu trúc cơ bản của YdcS gợi ý rằng nó thuộc về họ α-/β-hydrolase bao gồm PHB synthase (được biết đến với tổng hợp PHB dự trữ), lipase và esterases và YdcS đã được đề xuất là c-PHB synthase.
Sự đa dạng PHA. Cấu trúc PHA PHA là chuỗi polyester bao gồm các monome được liên kết bởi một liên kết este được thiết lập khi nhóm carboxyl của monomer được kết nối với nhóm hydroxyl của monomer lân cận [27]. PHA có cấu trúc tinh thể, kỵ nước với các monome không đối xứng. Chúng được lưu trữ dưới dạng hạt trong tế bào vi khuẩn và những hạt này chứa protein (1,87%), lipid (0,46%), polyeste (97,7%) [28].
Cấu trúc hóa học của PHA chung được thể hiện trong Hình 1. Cấu trúc hóa học của một số loại PHA khác nhau được thể hiện trong Hình 1. Các loại nhựa sinh học phổ biến được lệt kê trong Bảng 1. Nhóm chức R và một số loại PHA STT R a Loại monomer 1 H 1 3-hydroxypropionate (3HP) 2 H 2 4-hydroxybutyrate (4HB) 3 H 3 5-hydroxyvalerate (5HV) 4 CH3 1 3 –hydroxybutyrate (3HB) 5 C2H5 1 3-hydroxyvalerate (3HV) 6 C3H7 1 3-hydroxyhexanoate (3HHx) 7 C5H11 1 3-hydroxyoctanoate (3HO) 8 C7H15 1 3-hydroxydecanoate (3HD) 9 C9H18 1 3-hydroxydodecenoate (3HDDe) 10 C9H19 1 3-hydroxydodecanoate (3HDD) 11 C11H23 1 3-hydroxytetradecanoate (3HTD) Hình 1.
Cấu trúc hóa học phân tử PHA Để tạo thành cấu trúc hạt PHA, các phân tử PHA kỵ nước được tổng hợp dưới dạng không có cấu trúc tinh thể (phân tử này sẽ có cấu trúc vô định hình với đường kính 200-500nm) nhằm tránh sự nhận biết của PHA depolymerase trong tế bào. Cấu trúc màng của PHA bao gồm: lớp phospholipid và 4 thành phần protein liên kết hạt của PhaC, PhaZi (intracellular PHA depolymerase), phasin (phaP) và protein điều hòa biểu hiện phasin PhaR [29]. Trên hạt PHA, nhiều protein có liên quan đến sinh tổng hợp, phân hủy, và sự ổn định của cấu trúc PHA được gắn kèm. Những protein này bao gồm PHA synthase (PhaC), PHA depolymerase (PhaZ), và PHA oligomer hydrolase (PhaY) [30], phasin protein như: PhaP, PhaI, PhaF, ApdA, GA14, and Mms16 [31], protein điều hòa PhaR, PhaQ [30] và protein kích hoạt PHA synthase, PhaM [32].
PhaY n 8 được phát hiện là một enzym phân hủy PHA có mặt trong C. necator và Ralstonia pickettii và chủ yếu đặc hiệu phân hủy 3HB hơn là poly(3HB) [33] và theo một số báo cáo PhaY ở C. necator ở dạng hòa tan nhiều hơn dạng hạt gắn trên hạt PHA. Cấu trúc của một số loại PHA Hình 1.
Cấu trúc hạt PHA 1. CÁC NHÂN TỐ THAM GIA SINH TỔNG HỢP NHỰA SINH HỌC 1. PHA synthase Trong số các protein liên quan đến tổng hợp PHA, PHA synthase là enzyme chủ chốt chịu trách nhiệm về quá trình polymer hóa, ảnh hưởng đến thành phần monome, trọng lượng phân tử, và năng suất của PHA. Vì vậy, rất nhiều nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu cơ chế trùng hợp và phát triển PHA synthase.
Như được đề cập ở trên, một trong những đặc điểm quan trọng của PHA synthase là cho phép sử dụng một phổ rộng các cơ chất làm nguồn C thích hợp cho việc tổng hợp PHA. PHA synthases sử dụng (R) -3-hydroxyacyl-CoA làm cơ chất. Tùy thuộc vào tiểu đơn vị, trình tự axit amin và tính đặc hiệu cơ chất, synthase này có thể được phân thành bốn nhóm (lớp I - IV) khác nhau dựa n 9 theo cấu hình tiểu đơn vị enzyme và chiều dài bề mặt carbon [17]. Nhóm I PHA synthase bao gồm 1 tiểu đơn vị (PhaC) có khối lượng phân tử 60 – 65 kDa và xúc tác hình thành các polymer đồng hình và nhóm này có mặt trong C.
necator and Aeromonas spp. Nhóm I chủ yếu xúc tác hình thành các scl – monomer (C3-C5) và số ít mcl – monomer (C6 – C16) [34].