Chương I, Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 có ghi rõ “Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành”. Từ khái niệm trên cho thấy, thanh tra không đồng nhất với hoạt động điều hành, quản lý, khác với hoạt động kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ. Hoạt động thanh tra không chỉ xem xét tính hợp lý của hành vi, của đối tượng quản lý, bản chất của hoạt động Thanh tra không phải chỉ là phát hiện, xử lý vi phạm; mà điều quan trọng hơn là tìm ra nguyên nhân để từ đó đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm.
Nếu cho rằng, thanh tra là phát hiện hành vi vi phạm hành chính thì đó là việc nhận thức không đúng với bản chất của hoạt động thanh tra. Ngược lại, thanh tra phải chỉ ra được những thiếu sót, khuyết điểm và nguyên nhân của nó và phải thực sự trở thành tai mắt của trên, là người bạn của dưới. Đặc điểm của hoạt động thanh tra Công tác Thanh tra Nhà nước có những đặc điểm sau đây: Một là, thanh tra gắn liền với quản lý Nhà nước Quản lý Nhà nước và thanh tra có cái chung là nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng bị quản lý. Song xem xét theo cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là những công cụ, phương tiện để quản lý nhà nước.
Là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra bị ràng buộc, chế ước bởi quản lý, nhưng đồng thời tác động trở lại, góp phần điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý của chủ thể quản lý Nhà nước. Trong chu trình đó, thanh tra phản ánh và bảo vệ mục đích của quản lý. Một thể chế hành chính và cơ chế quản lý nhà nước sẽ không đầy đủ nếu thiếu thanh tra. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, hoạt động có tính hiệu quả của thanh tra sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tuỳ tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước.
Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh: Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ hạn chế được nguy cơ tham nhũng, tệ quan liêu, tăng cường được kỷ cương xã hội khi những người cộng sản thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm soát. 5 Hai là, thanh tra luôn mang tính quyền lực nhà nước Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ các cơ quan thanh tra nhà nước đều có quyền hạn được xác định và khả năng thực hiện những quyền hạn đó: - Ra các quyết định bắt buộc thi hành đối với các đối tượng bị thanh tra trong việc sửa chữa những thiếu sót đã bị Thanh tra phát hiện. - Yêu cầu có thẩm quyền giải quyết đề nghị của Thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện, kể cả việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để truy tố trước pháp luật. - Trong một số trường hợp, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước.
Tính quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra phải được cụ thể hoá trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống thanh tra, phương thức tiến hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tượng bị thanh tra, sự phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nước và thanh tra nhà nước chuyên ngành, thanh tra nhân dân. Nếu cụ thể hoá một mặt nào đó mà không thực hiện đồng bộ tính quyền lực nhà nước trên các lĩnh vực đều dẫn đến hạ thấp vai trò và hiệu quả hoạt động thanh tra, hạn chế hiệu lực thanh tra. Ba là, thanh tra có tính độc lập tương đối Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Tính độc lập tương đối trong quá trình thanh tra được thể hiện trên các điểm sau: - Chỉ tuân theo pháp luật.
- Tự mình tổ chức thực hiện các cuộc thanh tra trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định. - Ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh tra, chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình. Ở nước ta, tính độc lập tương đối của các cơ quan thanh tra trong quá trình thanh tra được quy định trong các văn bản pháp luật từ khi Ban thanh tra đặc biệt ra đời (23/11/1945) đến nay, thể hiện thông qua thẩm quyền (quyền hạn và nghĩa vụ) của các cơ quan thanh tra. Điều 5 Pháp lệnh thanh tra hiện hành quy định: "hoạt động thanh tra chỉ tuân theo pháp luật".
Mặt khác, Pháp lệnh cũng quy định cơ quan thanh tra tiến hành thanh tra theo yêu cầu nhiệm vụ mà thủ trưởng cơ 6 quan hành chính nhà nước giao. Nếu thủ trưởng không sử dụng kết quả thanh tra, không đồng ý với kết luận thanh tra thì cơ quan thanh tra có quyền bảo lưu ý kiến và chuyển kết luận thanh tra lên cơ quan Thanh tra cấp trên cho đến Tổng thanh tra nhà nước. Mọi hoạt động tài phán đều mất tính công minh nếu xa rời cơ sở pháp luật, nếu chịu ảnh hưởng của những quyền lực khác, kể cả quyền lực về phía cơ quan nhà nước cấp trên không chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả thanh tra. Tuy nhiên, tính độc lập của thanh tra ở đây cần được hiểu là tính độc lập của hoạt động thanh tra nói chung và độc lập về nguyên tắc nói riêng.
Nó khác với tính độc lập trong xét xử ở Toà án, bởi vì: + Thanh tra xem xét mọi việc không chỉ căn cứ vào tính hợp pháp mà cả tính hợp lý; + Không phải mọi hoạt động thanh tra đều mang tính chất tài phán; + Trong hoạt động thanh tra, về nguyên tắc, người có trách nhiệm, người quyết định cuối cùng trong việc xử lý kết quả thanh tra vẫn là thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Nguyễn Thế Lợi, 2013). Mục đích của hoạt động thanh tra Theo Điều 2, Luật Thanh tra năm 2010 của Quốc hội có nêu rõ, Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Như vậy, có thể thấy rõ, hoạt động của Thanh tra Nhà nước nhằm các mục đích chính sau: - Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Đây là mục tiêu chủ yếu, trực tiếp của hoạt động thanh tra.
Thanh tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấp hành, bảo đảm cho mọi hoạt động của tổ chức, cá nhân tuân thủ đúng quy định của pháp luật. - Phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật cũng là mục tiêu quan trọng của 7 hoạt động thanh tra. Hoạt động thanh tra là xem xét việc làm của các tổ chức, cá nhân trên cơ sở những quy định của pháp luật và tìm ra những việc làm vi phạm và những người sai phạm để đánh giá tính chất, mức độ vi phạm, từ đó kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý những vi phạm đó. - Phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để từ đó kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh các cơ chế chính sách.
- Phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân (Nguyễn Thế Lợi, 2013). Vị trí, vai trò của hoạt động thanh tra Nhà nước Vị trí, vai trò quan trọng của công tác thanh tra được thể hiện trong nhiều bài viết, bài nói, chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nhiều lúc, nhiều nơi. Tại Hội nghị tổng kết thanh tra toàn miền Bắc tháng 4 năm 1957, Bác căn dặn “cán bộ thanh tra giúp trên hiểu biết tình hình địa phương và cấp dưới, đồng thời cũng giúp cho các cấp địa phương kịp thời sửa chữa, uốn nắn nếu làm sai, hoặc làm chậm. Cho nên trách nhiệm của công tác thanh tra là quan trọng”.“Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát”.
Bác Hồ cũng chỉ rõ vị trí và vai trò đặc biệt của thanh tra trong hoạt động của nhà nước và đời sống xã hội: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới”- đây là quan điểm có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn rất sâu sắc, Người đã ví thanh tra quan trọng như tai mắt của con người - như bộ phận cấu thành cơ thể con người, là phương tiện cực kỳ trọng yếu giúp cho con người nhận thức và phát triển trí tuệ. Vị trí, vai trò của công tác thanh tra cũng luôn được thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp luật về thanh tra, nhất là từ Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến Luật Thanh tra năm 2004 và mới đây nhất là Luật Thanh tra năm 2010. Được xem như một khâu quan trọng của quản lý nhà nước, công tác thanh tra có vai trò và ý nghĩa sau đây: Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước Tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện quyết định là những giai đoạn tiếp theo của quá trình quản lý. Các giai đoạn này gồm những công việc như: truyền đạt quyết định; lập kế hoạch tổ chức; điều chỉnh quyết 8 định; kiểm tra việc thực hiện quyết định và tổng kết tình hình thực hiện quyết định.