Chương 1. Cơ sở lý luận về thanh tra nhà nước về quản lý chi thường xuyên NSNN - Chương 2. Phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Thực trạng công tác thanh tra nhà nước về quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn - Chương 4.
Giải pháp tăng cường công tác thanh tra nhà nước về quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Công tác thanh tra nhà nước nói chung và thanh tra trong lĩnh vực thu, chi NSNN đã được quan tâm nghiên cứu tại Việt Nam từ trước tới nay. Một số công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác thanh tra nhà nước ở các địa phương đã đánh giá được thực trạng của ngành, những tồn tại, hạn chế, tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện công tác này phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi địa phương.
Dưới đây là một số công trình nghiên cứu điển hình: Nguyễn Văn Kỷ (2001) nghiên cứu về công tác kiểm tra NSNN cấp huyện ở khu vực miền Trung. Đề tài có giá trị lớn về mặt lý luận và thực tiễn, nghiên cứu về công tác kiểm tra NSNN gồm 03 phần chính: cơ sở khoa học về tổ chức và kiểm tra ngân sách nhà nước cấp huyện, trong đó đã nghiên cứu và trình bày những đặc điểm, tính chất của NSNN cấp huyện, tổ chức biên chế và hoạt động của những cơ quan có trách nhiệm kiểm tra NSNN cấp huyện; thực trạng tổ chức và kiểm tra ngân sách nhà nước cấp huyện thuộc khu vực miền Trung; một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và kiểm tra ngân sách nhà nước cấp huyện khu vực miền Trung. Các giải pháp mà tác giả đề xuất là bài học kinh nghiệm hữu ích để các địa phương khác áp dụng. Nghiên cứu về công tác kiểm tra NSNN cũng là tiền đề cho việc nghiên cứu công tác thanh tra NSNN tại nước ta.
Nguyễn Thế Khang (2006) nghiên cứu về công tác thanh tra thu, chi NSNN tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn từ 2003-2005. Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, khảo sát thực tế, phương pháp tổng hợp, so sánh và phân tích. Kết quả nghiên cứu của đề tài bao gồm: (i) xây dựng cơ sở lý luận về công tác thanh tra thu, chi NSNN; (ii) phân tích thực trạng công tác thanh tra thu, chi NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2003-2005, thông qua phân tích các số liệu, thông tin được thu thập từ các văn bản, báo cáo do cơ quan Thanh tra tỉnh Đồng Nai và Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh 5 Đồng Nai ban hành, trong đó đánh giá những kết quả đã đạt được, khẳng định vai trò của công tác thanh tra nhà nước trong thực tiễn; phát hiện những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân khách quan, chủ quan của những hạn chế đó; (iii) đề xuất 02 nhóm giải pháp tăng cường công tác thanh tra thu, chi NSNN tại tỉnh Đồng Nai, cụ thể: nhóm giải pháp tăng số lượng cuộc thanh tra thông qua việc bổ sung quyền và nhiệm vụ cho Thanh tra tỉnh, tăng cường nhân sự làm công tác thanh tra và các chế độ đãi ngộ, thiết lập đường dây nóng của Thanh tra tỉnh; nhóm giải pháp tăng chất lượng và hiệu quả các cuộc thanh tra bằng các biện pháp xây dựng cổng thông tin pháp luật, tổ chức các hội thảo, xây dựng chuẩn mực về công tác thanh tra, nâng cao hiệu lực của kết luận thanh tra và bổ sung nội dung kiểm tra việc bố trí nhân sự và kiểm soát nội bộ đơn vị trong các cuộc thanh tra hành chính. Vũ Văn Họa (2008) trình bày rất chi tiết, cụ thể những cơ sở lý luận chung nhất liên quan đến NSNN như khái niệm, chu trình NSNN, những vấn đề cơ bản về chi thường xuyên NSNN và kiểm toán chi thường xuyên NSNN các cấp.
Tác giả đã đánh giá thực trạng trong tổ chức kiểm toán chi thường xuyên NSNN các cấp, trong đó chỉ ra một số hạn chế còn tồn tại như: trong khâu chuẩn bị kiểm toán chưa chú trọng vào khảo sát, thu thập thông tin để lựa chọn đơn vị kiểm toán, chưa nghiên cứu và đánh giá đúng hệ thống kiểm soát nội bộ, nội dung trọng yếu và rủi ro kiểm toán làm cơ sở cho việc xác định phương pháp kiểm toán thích hợp; chưa lập kế hoạch chi tiết cho cuộc kiểm toán hoặc nếu có lập thì mang tính chất chung chung, hình thức; trong khâu thực hiện kiểm toán: chất lượng kiểm toán phụ thuộc nhiều vào năng lực kiểm toán viên, có nội dung báo cáo kiểm toán còn mang tính liệt kê, mô tả, chưa đi sâu đánh giá, phân tích để nêu bật được bản chất của vấn đề dẫn đến những kiến nghị nêu lên thường chung chung, chưa sát với tình hình thực tế; chưa xác nhận được tính trung thực, hợp lý của số liệu; trong khâu kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán, chưa có chế tài xử lý hoặc có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục chuyển hồ sơ cho các cơ quan có thẩm quyền đối với các trường hợp đơn vị được kiểm toán không thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán vì các nguyên nhân chủ quan… 6 Đồng thời với việc đánh giá hạn chế trong tổ chức kiểm toán chi thường xuyên NSNN các cấp, tác giả đã đánh giá những hạn chế trong quy trình thực hiện NSNN của nước ta như còn phức tạp, rườm rà, tốn nhiều thời gian và công sức, việc xây dựng dự toán được tổng hợp qua nhiều cấp, nhiều nấc, dẫn đến sự chậm trễ về thời gian hoặc không đảm bảo chất lượng dự toán; cơ sở tính toán, dự báo thu, chi ngân sách còn thiếu căn cứ khoa học vững chắc; hệ thống định mức tiêu chuẩn chi thiếu và chưa đồng bộ… Về tổ chức bộ máy ngành kiểm toán, tác giả đánh giá hệ thống tổ chức và đội ngũ và chất lượng kiểm toán viên đã được nâng tầm tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được chức năng, nhiệm vụ được giao; cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước còn chưa đầy đủ và chưa đồng bộ; mối quan hệ giữa kiểm toán nhà nước với các cơ quan thanh tra, kiểm tra chưa được xác lập đầy đủ và phân định rõ ràng nên còn tình trạng chồng chéo, thiếu sự hỗ trợ, phối hợp. Tác giả giới thiệu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong công tác kiểm toán chi thường xuyên NSNN như Đức, Đan Mạch. Từ những phân tích, nghiên cứu, tác giả đã trình bày định hướng và một số giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán chi thường xuyên NSNN các cấp, bao gồm: hoàn thiện chuẩn mực, quy trình, phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó phải xây dựng quy trình kiểm toán chi thường xuyên NSNN ở các đơn vị dự toán; tổ chức đoàn kiểm toán chất lượng; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng kiểm toán; tăng cường công khai kết quả kiểm toán; hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về kiểm toán nhà nước; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan kiểm toán và cơ quan thanh tra; kiến nghị hoàn thiện chế độ chi tiêu NSNN, đổi mới cơ chế QLNN ở nước ta. Công trình nghiên cứu được thực hiện từ lâu, từ đó đến nay tình hình thực tiễn về việc tổ chức kiểm toán chi thường xuyên NSNN của nước ta đã có nhiều đổi mới, cập nhật.
Tuy nhiên đề tài đã gởi mở nhiều nội dung có thể áp dùng từ công tác kiểm toán nhà nước vào công tác thanh tra nhà nước, đó là quan tâm đến việc đánh giá hệ thống kiểm soát nột bộ của đối tượng được thanh tra, kiểm toán và xác định tính trọng yếu của rủi ro để nâng cao chất lượng thanh tra, kiểm toán nói chung. 7 Vũ Tiến Đĩnh (2013) nghiên cứu về công tác thanh tra chi NSNN tỉnh Sơn La trong giai đoạn từ 2008-2012. Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm thống kê, mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá với số liệu thống kê và tài liệu nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ các cơ quan thanh tra và một số cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Sơn La. Công trình đã đạt được những kết quả sau: (i) đánh giá tổng quan về một số công trình nghiên cứu có liên quan để tìm ra hướng nghiên cứu cho đề tài được thực hiện từ năm 2005 đến năm 2013; (ii) xây dựng cơ sở lý luận về công tác thanh tra chi NSNN; (iii) phân tích thực trạng công tác thanh tra chi NSNN trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2008-2012, trong đó phát hiện những hạn chế, tồn tại như trình độ, năng lực đội ngũ làm công tác thanh tra còn nhiều bất cập, điều kiện làm việc chưa đảm bảo, số lượng các cuộc thanh tra về quản lý chi ngân sách chiếm tỷ lệ thấp, việc xử lý, đôn đốc thực hiện kết luận, kiến nghị sau thanh tra chưa hiệu quả; số vụ việc tham nhũng phát hiện qua thanh tra không nhiều…; (iv) dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, ngoài 05 giải pháp tương tự với đề tài của tác giả Nguyễn Thế Khang, tác giả đề xuất thêm 03 giải pháp mới, bao gồm: đổi mới phương pháp chỉ đạo hoạt động thanh tra, đổi mới phương thức thanh tra, tăng số lượng các cuộc thanh tra, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thanh tra.
Nguyễn Minh Tuấn (2017) nghiên cứu việc quản lý ngân sách cấp trên địa bàn huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ 2014-2016. Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: chọn điểm nghiên cứu, thu thập tài liệu, tổng hợp tài liệu, phân tích, hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu với số liệu thống kê và tài liệu nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Thanh Ba và một số cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Ba.