Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề quản lý môi trường nông thôn đang đứng trước nhiều thách thức to lớn dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và gia tăng dân số. Tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, tổng diện tích tự nhiên đạt 12.564,90 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 72,11% (tương đương 9.062,70 ha). Toàn huyện có dân số 78.616 người với hơn 93% sinh sống tại địa bàn nông thôn. Định hướng phát triển đến năm 2030 của huyện là trở thành địa bàn du lịch trọng điểm của tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đang tạo áp lực lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường. Nguồn thu ngân sách địa phương năm 2017 đạt 154,4 tỷ đồng trong khi tổng chi ngân sách lên tới 458,3 tỷ đồng, dẫn đến việc đầu tư cho xử lý rác thải và nước thải còn khiêm tốn.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Lê Duy Anh, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Nguyễn Văn Song tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: tăng cường sự tham gia của người dân vào công tác quản lý môi trường nông thôn. Mục tiêu nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng giai đoạn 2015 - 2017, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi. Phạm vi không gian được thực hiện trên toàn địa bàn huyện Thanh Thủy, với dữ liệu nghiên cứu thực trạng 3 năm từ 2015 đến 2017 và thời gian hoàn thành công trình từ tháng 5/2018 đến tháng 5/2019. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện Tiêu chí số 17 về môi trường trong xây dựng nông thôn mới, củng cố mục tiêu duy trì tỷ lệ 97% hộ sử dụng nước hợp vệ sinh và 98,5% hộ có công trình vệ sinh đạt chuẩn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển cộng đồng kết hợp khung phân tích mức độ tham gia 6 cấp bậc của Lê Văn An và Ngô Tùng Đức. Sáu cấp độ này bao gồm: tham gia thụ động, tham gia cung cấp thông tin, tham gia tư vấn, tham gia thực hiện các hoạt động phát triển cộng đồng, tham gia trong quá trình ra quyết định và cấp độ cao nhất là tham gia tự nguyện.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp nguyên lý quản trị môi trường bền vững dựa trên 9 nguyên tắc của Hội nghị thượng đỉnh Rio-1992 và cơ chế quản lý dân chủ cơ sở theo chu trình 7 bước: Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi. Hệ thống khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa gồm: môi trường nông thôn, quản lý môi trường nông thôn, sự tham gia của cộng đồng và xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 và Tiêu chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt (với quy định vùng trung du miền núi phải đạt tối thiểu 80% hộ dùng nước hợp vệ sinh và 45% hộ dùng nước sạch đạt chuẩn).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Thanh Thủy giai đoạn 2015 - 2017, các báo cáo tổng kết của Phòng Tài nguyên và Môi trường, và hồ sơ đánh giá tiêu chí nông thôn mới của 15 xã, thị trấn. Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp thông qua phiếu khảo sát 150 hộ gia đình và 15 cán bộ quản lý cấp huyện, xã.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng tại 3 xã đại diện cho các tiểu vùng sinh thái - kinh tế điển hình: xã Đồng Luận (vùng đồng bằng ven sông Đà, chuyên canh nông nghiệp), xã Sơn Thủy (vùng trung tâm phát triển mạnh dịch vụ, du lịch) và xã Yến Mao (vùng đồi gò, miền núi còn nhiều khó khăn). Phương pháp phân tích thông tin gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm (%), phân tích chỉ số tăng trưởng kinh tế và đánh giá định lượng nhận thức qua thang đo Likert 5 mức độ. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác mối quan hệ giữa các yếu tố nhân khẩu học, trình độ học vấn với hành vi môi trường của người dân, đồng thời chỉ rõ sự biến động của các chỉ tiêu trong giai đoạn 2015 - 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, bức tranh kinh tế của huyện Thanh Thủy tăng trưởng ấn tượng nhưng kéo theo lượng chất thải lớn. Tổng giá trị tăng thêm của huyện tăng từ 1.467,3 tỷ đồng năm 2015 lên 1.828,2 tỷ đồng năm 2017, đạt mức tăng trưởng bình quân 11,62%/năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 18,93 triệu đồng/năm lên 23,25 triệu đồng/năm (tăng 22,82% sau 3 năm). Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ lên 47,14% và công nghiệp - xây dựng lên 19,32% đã làm phát sinh lượng lớn rác thải sinh hoạt và bao bì nông nghiệp, ước tính vượt 40 tấn mỗi ngày.

Thứ hai, mức độ tham gia của người dân có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nội dung công việc. Ở các hoạt động trực tiếp mang tính truyền thống như vệ sinh đường làng ngõ xóm và đóng góp kinh phí thu gom rác, tỷ lệ hộ dân tham gia đạt trên 85%. Tuy nhiên, ở khâu phân loại rác thải tại nguồn, chỉ có khoảng 28% số hộ thực hiện thường xuyên. Phần lớn người dân vẫn dồn lẫn rác hữu cơ, rác vô cơ và bao bì thuốc bảo vệ thực vật vào cùng một nơi.

Thứ ba, sự tham gia trong công tác quy hoạch và ra quyết định còn hạn chế. Người dân chủ yếu dừng lại ở cấp độ 1 (thụ động) và cấp độ 2 (cung cấp thông tin). Tỷ lệ người dân tham gia ý kiến vào quy hoạch hạ tầng nghĩa trang tập trung (đảm bảo khoảng cách ly vệ sinh trên 100m và diện tích mộ dưới 5m2) đạt dưới 35%. Trong mảng nước sạch, dù tỷ lệ dùng nước hợp vệ sinh đạt 97%, nhưng tỷ lệ tiếp cận nước sạch đạt chuẩn kỹ thuật quốc gia còn dưới 45% do người dân ngại đóng góp chi phí xây dựng công trình cấp nước tập trung.

Thứ tư, bất cập lớn về đội ngũ cán bộ quản lý môi trường cơ sở. Theo thống kê của ngành, Việt Nam hiện chỉ có gần 30 cán bộ quản lý môi trường trên 1 triệu dân, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình 70 cán bộ/1 triệu dân của các nước trong khối ASEAN. Tại huyện Thanh Thủy, 100% cán bộ phụ trách môi trường cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ địa chính, xây dựng, dẫn đến năng lực hướng dẫn và giám sát cộng đồng chưa đạt hiệu quả cao.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ tâm lý "sạch riêng, bẩn chung" của một bộ phận dân cư, xem việc quản lý môi trường hoàn toàn là trách nhiệm của nhà nước. Sự hạn hẹp của ngân sách địa phương (nguồn thu năm 2017 chỉ đáp ứng khoảng 33,69% tổng nhu cầu chi) khiến việc đầu tư xe chở rác chuyên dụng và bãi chôn lấp hợp vệ sinh gặp nhiều trở ngại.

So sánh với bài học thực tiễn tại xã Cổ Nhuế (Hà Nội), nơi chính quyền trích 15% nguồn thu để xử lý rác và áp dụng chế phẩm vi sinh EM ủ rác hữu cơ tại hộ gia đình, huyện Thanh Thủy hoàn toàn có thể nhân rộng phương pháp này nhằm giảm 70% khối lượng rác phải vận chuyển. Đồng thời, mô hình xây dựng bể chứa rác công cộng tại huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) với kinh phí 10 - 15 triệu đồng/bể và mức phí thu gom 6.000 đồng/hộ/tháng là minh chứng rõ nét cho việc huy động sức dân thành công. Các dữ liệu khảo sát trong luận văn được khuyến nghị biểu diễn qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ tham gia theo từng xã và biểu đồ tròn phân tích cơ cấu nhận thức của người dân, giúp việc theo dõi trực quan hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục môi trường. Chính quyền địa phương cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật phân loại rác thải tại nguồn cho các hộ gia đình. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hộ tự phân loại rác hữu cơ và vô cơ lên trên 80% vào năm 2023. Đơn vị chủ trì thực hiện là UBND các xã, thị trấn phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên huyện Thanh Thủy.

Thứ hai, thành lập và chuẩn hóa các tổ vệ sinh môi trường tự quản tại 100% khu dân cư. Cần trao quyền tự chủ cho các tổ tự quản trong việc thu gom rác thải sinh hoạt định kỳ 2 - 3 lần/tuần, xây dựng mức thu phí vệ sinh từ 10.000 - 15.000 đồng/hộ/tháng để chi trả thù lao thỏa đáng cho người lao động. Đặt mục tiêu hoàn thành kiện toàn mạng lưới tự quản trong giai đoạn 2021 - 2022 do Ban công tác Mặt trận khu dân cư và Trưởng thôn trực tiếp phụ trách.

Thứ ba, xã hội hóa nguồn lực đầu tư và quy hoạch hạ tầng bảo vệ môi trường. UBND huyện Thanh Thủy cần phân bổ tối thiểu 3 - 5% tổng chi ngân sách hàng năm cho các dự án môi trường nông thôn; kêu gọi doanh nghiệp đầu tư các trạm cấp nước sạch tập trung và khu xử lý rác liên xã. Đặt mục tiêu đến năm 2025 đưa tỷ lệ người dân dùng nước sạch đạt quy chuẩn lên trên 65%, đồng thời hoàn thành quy hoạch 100% nghĩa trang nhân dân đạt chuẩn khoảng cách ly vệ sinh cách khu dân cư từ 100m trở lên. Cơ quan chịu trách nhiệm chính là UBND huyện Thanh Thủy phối hợp Phòng Tài nguyên và Môi trường.

Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ cơ sở và ban hành hương ước môi trường. Tổ chức định kỳ hàng năm các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý kinh tế môi trường cho 100% công chức địa chính - nông nghiệp - môi trường cấp xã. Đồng thời, chỉ đạo các thôn bản bổ sung tiêu chí bảo vệ môi trường vào hương ước, quy ước cộng đồng, gắn liền công tác thi đua, khen thưởng với việc chấp hành nếp sống vệ sinh vào cuối năm 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo, công chức quản lý nhà nước tại UBND cấp huyện và xã: Công trình cung cấp giải pháp thực tiễn để hoàn thiện Tiêu chí số 17 về môi trường, hỗ trợ xây dựng kế hoạch quản lý chất thải và điều hành ngân sách địa phương hiệu quả.

Nhóm thứ hai là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế tài nguyên và Quản lý môi trường: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về khung lý thuyết sự tham gia của cộng đồng, phương pháp điều tra mẫu phân tầng và quy trình lượng hóa các biến số kinh tế - xã hội.

Nhóm thứ ba là cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên: Tài liệu hỗ trợ thiết kế các phong trào tự quản, phương pháp vận động hội viên tham gia phân loại rác thải tại nguồn và thu gom vỏ thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng.

Nhóm thứ tư là các hợp tác xã dịch vụ môi trường và doanh nghiệp đầu tư cấp nước sạch: Nghiên cứu cung cấp dữ liệu chi tiết về mức độ sẵn lòng đóng góp, nhu cầu sử dụng nước hợp vệ sinh của 78.616 người dân, giúp xây dựng phương án kinh doanh dịch vụ môi trường khả thi.

Câu hỏi thường gặp

Yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến sự tham gia của người dân trong quản lý môi trường nông thôn tại Thanh Thủy? Trình độ nhận thức và thói quen sinh hoạt của người dân là yếu tố quyết định hàng đầu. Mặc dù 97% số hộ có ý thức giữ vệ sinh gia đình, nhưng tỷ lệ tự phân loại rác tại nguồn chỉ đạt 28% do thiếu kiến thức kỹ thuật và thiếu chế tài ràng buộc cụ thể trong hương ước thôn bản.

Tiêu chuẩn cấp nước sạch nông thôn theo Tiêu chí số 17 tại khu vực trung du miền núi quy định cụ thể ra sao? Theo Quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT, khu vực trung du miền núi phía Bắc phải đạt tối thiểu 80% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có ít nhất 45% số hộ sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Năm 2017, huyện Thanh Thủy đạt 97% hộ dùng nước hợp vệ sinh nhưng tỷ lệ dùng nước sạch vẫn cần tiếp tục cải thiện.

Mô hình tổ vệ sinh môi trường tự quản mang lại lợi ích gì cho ngân sách địa phương? Mô hình tổ tự quản giúp tiết kiệm đáng kể ngân sách nhà nước thông qua việc huy động đóng góp trực tiếp từ người dân (mức phí từ 6.000 - 15.000 đồng/tháng). Điều này giải quyết tình trạng thiếu hụt ngân sách khi khoản thu 154,4 tỷ đồng của huyện chưa đủ bù đắp mức chi 458,3 tỷ đồng, đồng thời nâng tỷ lệ thu gom rác lên trên 85%.

Làm thế nào để xử lý hiệu quả bao bì và chất thải thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng? Giải pháp tối ưu là xây dựng hệ thống bể chứa bê tông chuyên dụng đặt tại các trục đường nội đồng theo mô hình chuẩn hóa, kết hợp phát động các đợt tổng vệ sinh đồng ruộng định kỳ. Đồng thời, chính quyền cần ký hợp đồng với đơn vị có chức năng xử lý chất thải nguy hại để thu gom định kỳ 2 lần/năm.

Luận văn sử dụng thang đo nào để đánh giá mức độ tham gia của cộng đồng? Luận văn áp dụng khung thang đo 6 cấp bậc phát triển cộng đồng của Lê Văn An và Ngô Tùng Đức (từ tham gia thụ động, cung cấp thông tin, tư vấn, thực hiện hoạt động, tham gia ra quyết định đến tham gia tự nguyện), kết hợp với việc lượng hóa qua thang đo khoảng cách Likert 5 mức độ trên mẫu khảo sát 150 hộ dân.

Kết luận

  • Luận văn phân tích sâu sắc thực trạng quản lý môi trường tại huyện Thanh Thủy với quy mô dân số 78.616 người (93% cư dân nông thôn) và tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,62%/năm giai đoạn 2015 - 2017.
  • Công trình đã hệ thống hóa vững chắc khung lý thuyết về sự tham gia của người dân theo 6 cấp bậc phát triển cộng đồng và cơ chế quản lý dân chủ cơ sở 7 bước.
  • Luận văn chỉ ra các nút thắt then chốt: tỷ lệ phân loại rác tại nguồn mới đạt 28%, cán bộ chuyên trách môi trường thiếu hụt với tỷ lệ chỉ gần 30 người/1 triệu dân trên phạm vi cả nước, và sự chênh lệch lớn giữa thu ngân sách (154,4 tỷ đồng) so với chi ngân sách (458,3 tỷ đồng).
  • Hệ thống 4 giải pháp trọng tâm được xây dựng có tính khả thi cao, bao gồm: đổi mới truyền thông, thành lập tổ tự quản thôn xóm, xã hội hóa đầu tư hạ tầng cấp nước và chuẩn hóa năng lực cán bộ cơ sở.
  • Lộ trình triển khai giai đoạn 2020 - 2025 gắn liền với mục tiêu đưa huyện Thanh Thủy trở thành trung tâm du lịch sinh thái trọng điểm của tỉnh Phú Thọ.

Các nhà quản lý kinh tế, chính quyền địa phương và các nhà nghiên cứu hãy khai thác ngay công trình này để áp dụng vào thực tiễn xây dựng nông thôn mới nâng cao và nhân rộng các mô hình bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng!