CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm, phân loại và đặc trưng của VKD 1.1 Khái niệm về VKD Ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là đặc trưng và xu hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới, bất luận là nền kinh tế có quy mô và trình độ phát triển ra sao hay thuộc chế độ chính trị- xã hội như thế nào. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển thì hơn bao giờ hết doanh nghiệp phải ý thức được giá trị nội tại cũng như những điều kiện kiên quyết giúp doanh nghiệp đó tồn tại và phát triển. Mọi hoạt động của doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào về bản chất đều nhằm giải quyết những nhu cầu của thị trường nhằm mưu cầu lợi nhuận và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Để thực hiện được điều này, trước hết doanh nghiệp cần phải ứng ra một lượng tiền nhất định để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, … phù hợp với quy mô và điều kiện của doanh nghiệp.
Vậy vốn là gì? Vốn là một trong ba yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất kinh doanh không chỉ của doanh nghiệp mà còn của toàn xã hội. VKD của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa theo một vòng tuần hoàn từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại chuyển về hình thái ban đầu là tiền. SX- H'- T’ (T’ > T) SLĐ SV: Nguyễn Văn Tiền Lớp: CQ49/11.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Luận văn tốt nghiệp 5 Học viện Tài chính Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên, liên tục do đó, sự vận động của VKD cũng diễn ra liên tục, vận động không ngừng lặp đi lặp lại theo sự tuần hoàn đó tạo nên sự chu chuyển của VKD. Như vậy, có thể rút ra rằng: VKD của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời.
VKD không chỉ là một trong ba yếu tố đầu vào cơ bản, là điều kiên tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà còn là yếu tố quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.2 Thành phần VKD Để quản lý và sử dụng VKD một cách có hiệu quả thì điều cần thiết là phải phân lại VKD. Dựa vào đặc điểm chu chuyển vốn, VKD bao gồm hai thành phần sau: VCĐ và VLĐ.1 VCĐ Khái niệm VCĐ Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trước hết doanh nghiệp phải có được những TSCĐ cần thiết như máy móc thiết bị, nhà xưởng, vật kiến trúc,… phù hợp với đặc điểm ngành nghề lĩnh vực kinh doanh của mình thông qua việc đầu tư mua sắm hay thuê tài chính. Số vốn tiền tệ nhất định mà doanh nghiệp phải ứng ra để hình thành nên những TSCĐ đó được gọi là VCĐ của doanh nghiệp. Tùy theo điều kiện cũng như đặc điểm ngành nghề sản xuất kinh doanh mà số VCĐ mỗi doanh nghiệp bỏ ra là khác nhau.
Do đó, quy mô của VCĐ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quy mô, tính đồng bộ của TSCĐ cũng như trình độ trang bị máy móc thiết bị, công nghệ và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Đặc điểm của VCĐ SV: Nguyễn Văn Tiền Lớp: CQ49/11.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Luận văn tốt nghiệp 6 Học viện Tài chính Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, VCĐ thực hiện chu chuyển giá trị của nó, sự chu chuyển này có những đặc điểm sau: VCĐ chu chuyển giá trị từng phần dần dần và được thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển. Sự chu chuyển của VCĐ chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ. TSCĐ là những tư liệu lao động thỏa mãn đồng thời hai tiêu chuẩn sau: - Tiêu chuẩn về thời gian: có thời gian sử dụng từ một năm trở lên - Tiêu chuẩn về giá trị: phải có giá trị lớn (mức giá trị cụ thể được Chính phủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ).
TSCĐ được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, phụ thuộc vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Theo đó, TSCĐ được phân loại theo các tiêu thức sau: Theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế: - TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn; thiết bị, dụng cụ quản lý; vườn cây lâu năm… - TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ… bao gồm: quyền sử dụng đất có thời hạn, phát minh, bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, phần mềm máy vi tính,… Theo mục đích sử dụng: - TSCĐ dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh SV: Nguyễn Văn Tiền Lớp: CQ49/11.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Luận văn tốt nghiệp 7 Học viện Tài chính - TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, quốc phòng an ninh, sự nghiệp… Theo tình hình sử dùng: - TSCĐ đang sử dùng - TSCĐ chưa cần dùng - TSCĐ không cần dùng và chờ xử lý Những TSCĐ của doanh nghiệp đều có giá trị lớn và sử dụng trong một thời gian dài, trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh chúng bị hao mòn cả về hữu hình lẫn vô hình. Giá trị của TSCĐ theo đó được dịch chuyển từng phần vào giá trị của sản phẩm. VCĐ vì thế cũng được tách ra thành hai phần: một phần gia nhập vào chi phí sản xuất dưới hình thức chi phí khấu hao tương ứng với phần hao mòn của TSCĐ, phần còn lại cố định trong TSCĐ.
VCĐ chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mọi mặt giá trị, tức là sau khi đã thu hồi đủ tiền khấu hao TSCĐ.2 VLĐ Khái niệm VLĐ Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bên cạnh việc đầu tư hình thành các TSCĐ thì doanh nghiệp cũng cần thiết phải có các tài sản lưu động phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Đó là: nguyên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, vốn bằng tiền, hàng tồn kho hay vốn trong thanh toán… Nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định được hình thành từ một số vốn tiền tệ nhất định mà doanh nghiệp bỏ ra ban đầu và bổ sung thường xuyên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Số vốn tiền tệ đó được gọi là VLĐ của doanh nghiệp. SV: Nguyễn Văn Tiền Lớp: CQ49/11.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Luận văn tốt nghiệp 8 Học viện Tài chính Như vậy, VLĐ là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.
Đặc điểm của VLĐ VLĐ được ví như dòng máu tuần hoàn trong cơ thể con người có lẽ bởi sự tương đồng về sự tuần hoàn và tính cần thiết của VLĐ đối với doanh nghiệp. VLĐ của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa lần lượt qua các hình thái khác nhau lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo nên sự chu chuyển của VLĐ. VLĐ chu chuyển không ngừng trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó tại một thời điểm nhất định, VLĐ thường xuyên có các bộ phận cùng tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong giai đoạn mà vốn đi qua. VLĐ có các đặc điểm sau: VLĐ luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình chu chuyển qua từng giai đoạn.
Các giai đoạn của sự tuần hoàn đó không tách rời nhau mà có sự đan xen chặt chẽ VLĐ chuyển dịch toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh VLĐ luân chuyển nhanh, hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ kinh doanh. Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách về nhiệm tài chính, sự vận động của VLĐ được gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động. VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất. Việc đầu tư, quản lý và sử dụng VLĐ có hiệu quả sẽ làm tăng tốc độ chu chuyển của vốn luu động, tăng hiệu suất sử dụng vốn, giúp cho quá trình tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp hiệu quả, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn.
Phân loại VLĐ: SV: Nguyễn Văn Tiền Lớp: CQ49/11.10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Luận văn tốt nghiệp 9 Học viện Tài chính VLĐ có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau: Theo hình thái biểu hiện và tính hoán tệ - Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản phải thu khách hàng… - Vốn về hàng tồn kho: vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật đóng gói, vốn công cụ dụng cụ, vốn sản phẩm dở dang, vốn về chi phí trả trước, vốn thành phẩm Theo vai trò của VLĐ đối với quá trình sản xuất kinh doanh: - VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: vốn nguyên, nhiên vật liệu chính; vốn vật liệu phụ; vốn nhiên liệu; vốn phụ tùng thay thế; vốn vật đóng gói; vốn công cụ dụng cụ nhỏ - VLĐ trong khâu trực tiếp sản xuất: vốn về sản phẩm đang chế tạo, vốn về chi phí trả trước ngắn hạn - VLĐ trong khâu lưu thông: vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn hạn… 1.3 Đặc trưng của VKD Trong nền kinh tế thị trường, đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn là một trong những điều kiện tiên quyết quyết định đến sự hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.