phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về quản lý Nhà nƣớc về kinh tế trong sử dụng tài nguyên đất - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Thực trạng quản lý Nhà nƣớc về kinh tế trong sử dụng tài nguyên đất tại địa bàn nghiên cứu - Chƣơng 4: Một số giải pháp Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ KINH TẾ TRONG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý và quản lý Nhà nước Thuật ngữ “quản lý” đƣợc sử dụng nhiều trong sinh hoạt cuộc sống và nghiên cứu. Thuật ngữ này đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy theo lĩnh vực và cách tiếp cận.
Quản lý là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, do đó mỗi ngành quan niệm về quản lý theo góc độ riêng của mình cho phù hợp. Nhiều lĩnh vực cho rằng quản lý là cai trị hay quản lý là hoạt động điều hành, điều khiển, chỉ huy… Tuy nhiên, tựu chung lại, tất cả các quan niệm đó điều thống nhất một vấn đề đó là quản lý là nhằm tác động tới một sự vật, một hiện tƣợng nào đó để nó phải tuân theo một trật tự nhất định đã đƣợc định trƣớc. Vì vậy quan niệm về quản lý đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất là “Quản lý là sự tác động định hƣớng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hƣơng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định”[22]. Theo góc độ hành động thì quản lý đƣợc hiểu đây là một hoạt động điều khiển và đều do con ngƣời thực hiện đối với 3 đối tƣợng chính sau: - Con ngƣời điều khiển các vật hữu sinh (không phải là con ngƣời), bắt các vật hữu sinh này thực hiện theo ý đồ của con ngƣời, nhƣ quản lý sinh học, quản lý thiên nhiên, quản lý môi trƣờng, … - Con ngƣời điều khiển các vật vô sinh (những vật không sống), bắt chúng thực hiện theo ý đồ của ngƣời điều khiển.
Hay còn đƣợc gọi là quản lý kỹ thuật, nhƣ là điều hành sự vận hành của máy móc, thiết bị theo ý đồ của con ngƣời,… - Con ngƣời điều khiển con ngƣời, loại hình này còn đƣợc gọi là quản lý xã hội. Đây là một loại hình quản lý đặc biệt và phức tạp nhất, nó đƣợc sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động[29]. Trong 3 đối tƣợng quản lý trên thì quản lý xã hội đƣợc nghiên cứu và quan tâm nhiều hơn cả. Vì vậy, khi nói đến quản lý ngƣời ta thƣờng chỉ về hoạt động quản lý xã hội và đƣợc hiểu là “là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra, đúng ý chí của nhà quản lý”[29].
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Quản lý Nhà nƣớc là một trong những lĩnh vực lớn của quản lý xã hội, nó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nƣớc, đƣợc sử dụng quyền lực Nhà nƣớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời. Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội thì Nhà nƣớc là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật. Cụ thể: - Quản lý toàn bộ những ngƣời sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm: công dân và những ngƣời không phải là công dân - Quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ. Nhà nƣớc quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội dựa trên cơ sở pháp luật quy định.
- Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật, lấy pháp luật làm công cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định một cách nhiêm minh. Tóm lại, có thể hiểu: Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước[23]. Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế Quản lý Nhà nƣớc về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nƣớc lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nƣớc, các cơ hội có thể có, để đạt đƣợc các mục tiêu phát triển kinh tế đất nƣớc đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lƣu quốc tế[23]. Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nƣớc về kinh tế dƣợc thực hiện thông qua cả ba loại cơ quan: lập pháp, hành pháp và tƣ pháp của Nhà nƣớc.
Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nƣớc về kinh tế đƣợc hiểu nhƣ hoạt động quản lý có tính chất Nhà nƣớc nhằm điều hành nền kinh tế, đƣợc thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ)[23]. Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế trong sử dụng tài nguyên đất Quản lý Nhà nƣớc nhằm thực hiện điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ đất đai. Quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm; quan hệ về sở hữu, quan hệ về sử dụng, quan hệ về phân phối các sản phẩm do sử dụng đất đai mà có. Quan hệ về sở hữu đất đai ở nƣớc ta kể từ khi thành lập Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn và tƣơng ứng với mỗi giai đoạn đó là các hình thức sở hữu về đất đai đã tồn tại ở nƣớc ta.
Trong đó hình thức Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 sở hữu toàn dân về đất đai đã đƣợc khẳng định trong hiến pháp và Nhà nƣớc là ngƣời đại diện quyền sở hữu về đất đai, thực hiện quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật. Các hoạt động quản lý Nhà nƣớc về kinh tế trong sử dụng tài nguyên đất bao gồm: - Nắm chắc tình hình đất đai: đây là hoạt động giúp Nhà nƣớc nắm rõ về các thông tin đất đai cả về số lƣợng, chất lƣợng và tình hình hiện trạng của công tác quản lý và sử dụng đất đai. - Hoạt động thứ hai là Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai: Nhà nƣớc thực hiện việc phân bổ đất đai theo các mục đích đảm bảo nhu cầu cho các mục tiêu chung của các ngành, lĩnh vực trong phạm vi của từng địa phƣơng, khu vực hoặc trong phạm vi cả nƣớc - Hoạt động thứ ba là Nhà nước tiến hành thanh tra, giám sát tình hình quản lý và sử dụng đất đai: Nhà nƣớc thực hiện quyền giám sát các chủ thể là các cơ quan quản lý Nhà nƣớc về kinh tế trong sử dụng tài nguyên đất và các chủ sử dụng đất đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. - Hoạt động thứ tư là Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất: Nhà nƣớc thực hiện xác định giá các loại đất; tiền sử dụng đất đối với các đối tƣợng sử dụng đất ở các mục đích; các loại thuế có liên quan đến việc sử dụng đất.
Các hoạt động trên có mối quan hệ trong một thể thống nhất nhằm mục đích là bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu Nhà nƣớc đối với đất đai. Do vậy, có thể hiểu và đƣa ra khái niệm về quản lý Nhà nƣớc về kinh tế trong sử dụng tài nguyên đất nhƣ sau: “Quản lý Nhà nước về kinh tế trong sử dụng tài nguyên đất là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai, bao gồm: hoạt động nắm chắc tình hình đất đai; phân phối và phân phối lại đất đai; kiểm tra giám sát tình hình quản lý và sử dụng đất đai; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai”[12]. Quản lý Nhà nước về kinh tế trong sử dụng đất 1. Vai trò của quản lý Nhà nước về kinh tế trong sử dụng tài nguyên đất Luật Đất đai 2013 quy định Nhà nƣớc giữ quyền định đoạt cao nhất đối với đất đai bằng việc thực hiện những quyền năng cụ thể: quyết định mục đích sử dụng đất, quy định thời hạn sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, định giá đất.
Trên cơ sở đó, Luật Đất đai 2013 đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan Nhà nƣớc và của từng cấp chính quyền trong việc thực hiện Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 nhiệm vụ của ngƣời đại diện. Nhà nƣớc có quyền hƣởng lợi từ đất đai thông qua việc quy định các nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với ngƣời sử dụng đất[21]. Với việc làm rõ vai trò của Nhà nƣớc là ngƣời đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Luật Đất đai 2013 đã phân định rõ ranh giới giữa quyền của chủ sở hữu đất đai với quyền của ngƣời sử dụng đất, nâng cao nhận thức của ngƣời sử dụng đất về nghĩa vụ của họ đối với chủ sở hữu đất đai Nhƣ vậy, quản lý Nhà nƣớc về kinh tế trong sử dụng tài nguyên đất có vai trò quan trọng, nhằm: (1) Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả; (2) Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất, Nhà nƣớc nắm đƣợc tổng thể quỹ đất và cơ cấu từng loại đất; (3) Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai; (4) Phát hiện ra những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm. Mục đích, yêu cầu của quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý nhà nƣớc về đất đai nhằm mục đích: - Bảo vệ quyền sở hữu nhà nƣớc đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sử dụng đất; - Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia; - Tăng cƣờng hiệu quả sử dụng đất; - Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trƣờng.