Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN MỘT ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp 1. Khái quát chung về cụm công nghiệp 1. Khái niệm cụm công nghiệp CCN là khái niệm được sử dụng khá phổ biến và thường xuyên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các nước tư bản, đặc biệt là sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới sau nhưng năm 1979 - 1980.
Michael Porter (1990), “CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty và tổ chức liên quan trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và bao gồm các ngành gắn kết với nhau”. CCN tập trung các nhà cung cấp đầu vào, các khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng như các nhà sản xuất các sản phẩm khác có liên quan. Các CCN cũng có thể bao gồm các tổ chức như trường đại học, viện nghiên cứu, trường đào tạo nghề và các hiệp hội thương mại. Theo Kuchiki (2005), “CCN là sự tập trung về mặt địa lý các công ty, các nhà cung cấp đặc thù, các nhà cung cấp dịch vụ và các tổ chức có liên quan chặt chẽ với nhau trong một lĩnh vực nào đó trong phạm vi một nước hoặc một khu vực”.
Tại Việt Nam, trong quá trình phát triển, khái niệm CCN lần đầu được đưa ra trong Công văn số 17/CP-KCN ngày 15 tháng 10 năm 1998 về việc xây dựng thí điểm 2 CCN vừa và nhỏ tại huyện Gia Lâm và Thanh Trì - thành phố Hà Nội. Đây là một mô hình mới với nước ta thời điểm đó, “CCN là một hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ, nó ra đời gắn với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa”. Mới nhất, khái niệm CCN được quy định tại Khoản 1 Điều 2 (có hiệu lực ngày 15/07/2017) về quản lý phát triển cụm công nghiệp như sau: 7 “Cụm công nghiệp là nơi sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được đầu tư xây dựng nhằm thu hút, di dời các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác vào đầu tư sản xuất kinh doanh”. CCN có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 10 ha.
Riêng đối với CCN ở các huyện miền núi và CCN làng nghề có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 5 ha. Đặc điểm của cụm công nghiệp Mục đích xây dựng: - Quy tập những doanh nghiệp đã tồn tại từ những thập niên trước mà đến nay còn tồn tại rải rác trong những khu dân cư gây ô nhiễm môi trường. - Thu hút đầu tư của các doanh nghiệp. Thu hút vốn đầu tư để phát triển công nghiệp theo quy hoạch là mục tiêu quan trọng của các cụm công nghiệp, với tính chất là “vùng lãnh thổ” hoạt động trong môi trường đầu tư chung về cơ sở hạ tầng.
- Giải quyết vấn đề căng thẳng về mặt bằng sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Về thủ tục thành lập: Do UBND cấp tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập. Về chủ đầu tư: Các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực và kinh nghiệm xây dựng và quản lý cụm công nghiệp. Phân loại cụm công nghiệp Phân theo chức năng: có 2 loại hình cụm công nghiệp như sau: - CCN tổng hợp (đa ngành): Là cụm công nghiệp được hình thành trên địa bàn các huyện, thị xã và thành phố, tập trung thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp trong và ngoài địa phương thuộc các ngành nghề khác nhau.
- CCN làng nghề: “CCN tập trung thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ cho công nghiệp”. Tiểu thủ 8 công nghiệp thuộc một nhóm ngành nghề tương đối đồng nhất, gắn với những làng nghề sẵn có của địa phương, mục tiêu là phục vụ việc di dời các cơ sở sản xuất của làng nghề, xã nghề ở ngay tại địa phương, nhằm mở rộng mặt bằng sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường của làng nghề. Các CCN làng nghề hầu như không có sự hiện diện của doanh nghiệp ngoài làng nghề. Phân theo chủ thể quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng: có 3 loại như sau: - CCN do UBND cấp xã, phường làm chủ đầu tư.
- CCN do UBND cấp huyện (BQL các CCN) làm chủ đầu tư. - CCN do các DN làm chủ đầu tư. Phân theo quy mô có 2 loại CCN: Cụm công nghiệp dưới 50 ha và Cụm công nghiệp trên 75 ha. Vai trò của cụm công nghiệp Huy động vốn đầu tư phát triển Thu hút vốn đầu tư để phát triển CCN theo quy hoạch là mục tiêu cũng như là vai trò quan trọng hàng đầu của các CCN.
Với việc xây dựng không gian, cơ sở hạ tầng và các yếu tố đầu vào cần thiết, thuận lợi cho quá trình sản xuất, các CCN là công cụ để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư sản xuất tại các địa phương, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương. Sự phát triển của các DN đầu tư tại các CCN trong dài hạn cũng sẽ đóng góp ngân sách nhiều hơn giúp địa phương tái đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các CCN và đầu tư phát triển các lĩnh vực KT-XH khác của địa phương. Giải quyết việc làm cho lao động Phát triển CCN sẽ mở ra một không gian kinh tế rộng lớn, có rất nhiều tiềm năng để thu hút lao động và giải quyết việc làm. Ở các CCN nhờ mở rộng quy mô sản xuất và kết hợp giữa sản xuất tập trung và phân tán nên đã thu hút được nhiều lao động, giải quyết việc làm, thúc đẩy phân công lao động ở nông thôn.
Không chỉ giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ mà còn thu hút lao 9 động tại các địa phương khác. Việc phát triển CCN góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng, tăng thu nhập cho người lao động, đẩy nhanh quá trình thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư, xây dựng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường các CCN đã tách khu vực sản xuất ra khỏi khu vực dân cư, giúp các DN có môi trường sản xuất thuận lợi; đồng thời tạo điều kiện dẫn dắt công trình phụ trợ, các dịch vụ công nghiệp, tài chính, ngân hàng, cung cấp nhân lực, nguyên liệu dịch vụ phục vụ dân sinh, phục vụ lao động trong CCN. Sản phẩm công nghiệp trong các CCN ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Nhờ vậy, việc phát triển các CCN đã góp phần thúc đẩy gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, qua đó thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực: tăng tỉ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu ngành kinh tế của các tỉnh nói riêng, của Việt Nam nói chung. Thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ Trình độ khoa học công nghệ của các DN công nghiệp Việt Nam nhìn chung khá lạc hậu so với các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi, khu vực nông thôn. Hình thành các CCN góp phần chuyển sản xuất công nghiệp từ phân tán, manh mún sang tập chung, chuyên môn hóa, nhờ vậy các DN trong CCN có điều kiện để áp dụng các dây chuyền công nghệ có công suất lớn hơn và hiện đại hơn và thúc đẩy đổi mới công nghệ. Việc hình thành các CCN cũng tạo điều kiện để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư với những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có những dự án công nghiệp kỹ thuật cao, những lĩnh vực mà DN Việt Nam còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử.
10 Nâng cao hiệu quả kinh tế Các CCN là nơi tập trung hóa sản xuất cao và từ việc được tổ chức sản xuất khoa học, trang bị công nghệ kỹ thuật tiên tiến của các doanh nghiệp trong và ngoài nước; các cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật làm việc tại các CCN sẽ được đào tạo và đào tạo lại về kinh nghiệm quản lý, phương pháp làm việc với công nghệ hiện đại, tác phong công nghiệp. Những kết quả này có ảnh hưởng gián tiếp và tác động mạnh đến các doanh nghiệp trong nước trong việc đổi mới công nghệ, trang thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi phương pháp quản lý,… để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Khái niệm, vai trò của quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp 1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp * Khái niệm Quản lý nhà nước (QLNN) đối với CCN trước hết là một dạng hoạt động QLNN.
QLNN là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chi phối, kiểm tra, giám sát, v. để đạt được mục tiêu KT-XH trong những giai đoạn lịch sử nhất định. QLNN là sự quản lý bằng quyền lực của nhà nước, ý chí nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu KT-XH nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao. QLNN là một tất yếu khách quan, ý mang tính cưỡng bức, cưỡng chế, mệnh lệnh và tính chính trị rõ nét, đại diện cho cả xã hội.
Phan Huy Đường (2015), trong Quản lý nhà nước về kinh tế, quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật. Vì thế nói đến quản lý là phải nói đến cơ chế vận hành, tức là cơ chế quản lý như chế độ, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội.