Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHỐNG BUÔN LẬU 1. Cơ sở lý luận về quản lý chống buôn lậu 1. Khái quát chung về buôn lậu 1. Khái niệm về buôn lậu Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm buôn lậu: Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam “Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hóa hoặc ngoại tệ, kim khí và đá quý, những vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa mà Nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn bán hàng hóa nói chung qua biên giới mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của Hải quan”.
Tổ chức Hải quan thế giới WCO (World Customs Organization) họp tại thủ đô Nairobi của nước Cộng hòa Kênia ngày 09/6/1977 thống nhất đưa ra khái niệm (còn gọi là công ước Nairobi) như sau: "Buôn lậu là gian lận thương mại nhằm che giấu sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện trong việc đưa hàng hóa lén lút qua biên giới". Điều 153, Bộ Luật Hình Sự Của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Số 15/1999/QH10 Sửa đổi bổ sung 2009/QH12 Ngày 19/6/2009 đã quy đinh “Buôn lậu: là các hành vi vận chuyển, buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hóa Nhà nước cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu như: vũ khí, chất nổ, ngoại tệ, cổ vật, đồ chơi kích thích bạo lực, văn hóa phẩm độc hại xấu đến môi sinh, môi trường; đến người; động; thực vật; những vật phẩm thuộc do tích lịch sử, văn hóa. Buôn lậu là các hành vi trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Hải quan, biên phòng) hoặc dùng các thủ đoạn gian dối để che mắt các cơ quan này để vận chuyển hàng cấm; trốn; lậu thuế đối với việc buôn bán, vận chuyển hàng hóa qua biên giới; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 dùng các thủ đoạn bí mật, bất hợp pháp trà trộn hàng lậu với các hàng hóa khác vận chuyển qua cửa khẩu nhưng qua được mắt Hải quan”. Nguyên nhân xuất hiện buôn lậu Nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng, chống buôn lậu cho thấy buôn lậu tồn tại do một số nguyên nhân: Một là, nền kinh tế nước ta chậm phát triển, chất lượng hàng hóa chưa đáp ứng nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng; giá thành cao, mất cân đối giữa cung và cầu, chênh lệch lớn về giá.
Hai là, hệ thống văn bản pháp lý thiếu thống nhất, kể cả trong việc áp dụng. Phòng ngừa, đấu tranh chống buôn lậu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân; thế nhưng công tác này không thể đạt được kết quả nếu thiếu các biện pháp quản lý bằng pháp luật của các cơ quan bảo vệ pháp luật và quản lý của Nhà nước. Ba là, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống buôn lậu trong các ngành, các cấp và trong quần chúng nhân dân chưa được quan tâm đúng mức. Bốn là, sự tác động của kinh tế chung trong khu vực đã kích thích, ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế Việt Nam.
Trong khi nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, thì trong những năm gần đây phần lớn các nước trong khu vực lại có mức tăng trưởng kinh tế cao, sản xuất phát triển hàng hóa mạnh; do vậy đã tạo ra sự chênh lệch khá cao về về giá cả hàng hóa giữa thị trường ở trong nước và các nước trong khu vực. Hậu quả của buôn lậu * Đối với nền kinh tế Buôn lậu trước tiên ảnh hưởng trực tiếp đến những thành quả của công cuộc đổi mới của đất nước, nguy cơ kiềm hãm tốc độ phát triển kinh tế, tạo lực cản đối với quá trình CNH, HĐH đất nước. Hàng nhập lậu trốn thuế nên giá rẻ, trong khi đó hàng hóa sản xuất trong nước phải chịu nhiều thứ thuế nên giá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thành sản phẩm cao hơn, không tiêu thụ được, làm cho tình trạng nợ đọng vốn, sản xuất hàng hóa đình đốn ảnh hưởng đời sống người lao động. Đối với một số cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước có hành vi buôn lậu sẽ dẫn đến tình trạng đồng vốn quốc gia bị sử dụng sai mục đích, không tạo ra được sản phẩm thông qua sản xuất và hiệu quả không hợp pháp trong kinh doanh, làm mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng.
* Ảnh hưởng đối với an ninh, chính trị Vì mục đích lợi nhuận, đối tượng tham gia buôn lậu không từ bất cứ một mặt hàng nào kể cả những mặt hàng nhà nước cấm kinh doanh, buôn bán như ma túy, vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, quân trang quân dụng v. Buôn lậu ảnh hưởng đối với nền kinh tế, tất yếu sẽ làm cho an ninh chính trị của đất nước càng khó khăn hơn. Hàng hóa nhập lậu làm cho thị trường hỗn loạn, Nhà nước không kiểm soát được tình hình hoạt động XNK và các chính sách đầu tư đối với nước ngoài; ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, làm giảm các khoản chi cho các quỹ phúc lợi xã hội, làm cho tệ nạn xã hội phát triển. Những khoản thu nhập có từ buôn lậu làm cho một bộ phận làm ăn bất chính giàu lên, sống sa đọa, coi thường kỷ cương phép nước, làm cho Nhà nước không điều hành được công việc của mình tất yếu Nhà nước sẽ suy yếu, ảnh hưởng đến chủ quyền và an ninh quốc gia.
* Ảnh hưởng về mặt văn hóa - xã hội Lợi nhuận của buôn lậu làm gia tăng chênh lệch giàu và nghèo, làm cho một số nhà sản xuất đi lạc hướng, số người không có việc làm ngày một tăng. Buôn lậu lôi kéo một lực lượng lớn lao động tham gia, bỏ sản xuất, trẻ em đến tuổi đến trường phải bỏ học, người dân bỏ sản xuất đi làm thuê, trật tự an toàn xã hội biến động. Buôn lậu là một trong những nguyên nhân làm suy thoái đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục. Vì hám lợi họ phản lại giá trị đạo đức truyền thống để chạy theo đồng tiền, và chính đồng tiền có được từ buôn lậu một cách dễ dàng dễ đưa họ tới những tệ nạn như cờ bạc, ma túy, mại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Song song với việc nhập hàng lậu, bọn buôn lậu còn nhập tài liệu phản động, tranh ảnh khiêu dâm, cổ vũ lối sống thực dụng, coi trọng đồng tiền, làm ảnh hưởng đến nhân cách con người, ảnh hưởng cả thế hệ lười lao động, sáng tạo. Quản lý nhà nước về chống buôn lậu 1. Khái niệm quản lý nhà nước về chống buôn lậu Quản lý nhà nước (QLNN) về chống buôn lậu nhằm bảo vệ và góp phần thúc đẩy sản xuất, phát triển bảo vệ người tiêu dùng, tác động tích cực đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại là những mặt trái của nền kinh tế thị trường, có thể để lại những hậu quả nguy hại về kinh tế - xã hội, kìm hãm sản xuất, kinh doanh trong nước, gây thất thu cho ngân sách, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư… hoạt động chống buôn lậu có quan hệ biện chứng với hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thông qua QLNN về chống buôn lậu góp phần tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và đến lượt nó, hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ góp phần tích cực vào chống buôn lậu (Phan Văn Minh, 1997). Ngay từ khi xác định hội nhập kinh tế quốc tế, quan điểm và chính sách của Việt Nam đã thực hiện qua việc tham gia các công ước và hiệp ước quốc tế và thực hiện các cam kết về thương mại đối với các đối tác, tổ chức hợp tác quốc tế như (Nguyễn Mạnh Thắng, 1999), (Thủ tướng Chính phủ, 2010). - Công ước Stockholm về việc thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, tiếng Anh viết tắt là WIPO, được thành lập trên cơ sở Công ước ký tại Stockhlm ngày 14 tháng 7 năm 1967 gọi là công ước về thành lập “Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới”.
WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh pháp luật và quản lý sở hữu trí tuệ. Việt Nam là thành viên của WIPO từ ngày 02/7/1976. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp: Công ước Paris được ký kết ngày 20/3/1883 với mục đích chủ yếu là nhằm xây dựng các điều kiện có lợi cho việc đăng ký bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá của công dân các nước thành viên công ước. Đồng thời xây dựng một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại các nước thành viên trên nguyên tắc tôn trọng luật sở hữu công nghiệp của các nước thành viên.
Việt Nam là thành viên của công ước từ năm 1949. - Công ước Bern 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Công ước Bern được ký kết năm 1886 là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên và là điều ước quốc tế quan trọng nhất về bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Mục đích của công ước là nhằm bảo hộ một cách có hiệu quả và thống nhất trên phạm vi quốc tế quyền của tác giả.
Việt Nam là thành viên của công ước từ ngày 26/10/2004. - Công ước Geneva về bảo hộ người sản xuất bản ghi âm chống sự sao chép trái phép; Công ước Geneva được ký kết vào năm 1971. Việt Nam là thành viên của công ước ngày 26/7/2005. - Thoả ước Madrit về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá 1891.
Đây là điều ước đặc biệt được ký kết ngày 14/4/1891 trong khuôn khổ công ước Paris. Mục đích của thoả ước Madrit là tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại các nước thành viên. Việt Nam là thành viên chính thức vào năm 1949.