Giải pháp tăng cường năng lực thực thi công vụ cho cán bộ tại phường xã Cẩm Phả, Bắc Ninh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tăng cường năng lực thực thi công vụ của cán bộ công vụ tại các phường xã trên địa bàn thành phố, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

109
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Năng lực thực thi công vụ

Năng lực thực thi công vụ là khả năng của cán bộ công chức trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả. Tại các phường xã thuộc Cẩm Phả, Bắc Ninh, việc nâng cao năng lực thực thi công vụ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước. Các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi ứng xử của cán bộ công chức được xem là nền tảng để đánh giá năng lực thực thi công vụ. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng công việc mà còn góp phần vào phát triển địa phương.

1.1. Kiến thức và kỹ năng

Kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực tiễn là hai yếu tố cốt lõi trong năng lực thực thi công vụ. Tại Cẩm Phả, nhiều cán bộ công chức còn thiếu kiến thức về quản lý nhà nước và kỹ năng giải quyết công việc. Điều này dẫn đến hiệu quả công việc không cao. Việc đào tạo và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho cán bộ công chức là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính.

1.2. Thái độ và hành vi ứng xử

Thái độ và hành vi ứng xử của cán bộ công chức ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc. Tại các phường xã thuộc Cẩm Phả, một số cán bộ chưa thực sự tận tâm với công việc, dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong quản lý. Việc rèn luyện thái độ tích cực và hành vi ứng xử chuyên nghiệp là yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực thực thi công vụ.

II. Tăng cường năng lực thực thi công vụ

Tăng cường năng lực thực thi công vụ là một trong những mục tiêu quan trọng của Cẩm Phả, Bắc Ninh. Để đạt được mục tiêu này, cần có các giải pháp đồng bộ từ việc đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo đến việc cải thiện chính sách tiền lương và môi trường làm việc. Các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức mà còn góp phần vào phát triển địa phương.

2.1. Đổi mới công tác tuyển dụng

Công tác tuyển dụng cán bộ công chức tại Cẩm Phả cần được đổi mới để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Việc áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong tuyển dụng sẽ giúp lựa chọn được những người có năng lực thực thi công vụ tốt nhất. Điều này góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức.

2.2. Cải thiện chính sách tiền lương

Chính sách tiền lương và phụ cấp công vụ cần được cải thiện để tạo động lực cho cán bộ công chức. Tại Cẩm Phả, việc nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện làm việc sẽ giúp cán bộ công chức tập trung hơn vào công việc, từ đó nâng cao hiệu quả công việc.

III. Quản lý công vụ và phát triển địa phương

Quản lý công vụ hiệu quả là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển địa phương. Tại Cẩm Phả, Bắc Ninh, việc quản lý công vụ cần được thực hiện một cách khoa học và hệ thống. Các giải pháp như đổi mới phương thức đánh giá, phân loại công chức và nâng cao vai trò của nhà lãnh đạo sẽ giúp cải thiện năng lực thực thi công vụ và thúc đẩy sự phát triển của địa phương.

3.1. Đổi mới phương thức đánh giá

Phương thức đánh giá cán bộ công chức cần được đổi mới để đảm bảo tính khách quan và công bằng. Tại Cẩm Phả, việc áp dụng các tiêu chí đánh giá rõ ràng và minh bạch sẽ giúp nâng cao hiệu quả công việc và thúc đẩy sự phát triển của địa phương.

3.2. Nâng cao vai trò của nhà lãnh đạo

Nhà lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và điều hành công việc. Tại Cẩm Phả, việc nâng cao vai trò của nhà lãnh đạo sẽ giúp cải thiện năng lực thực thi công vụ và thúc đẩy sự phát triển của địa phương. Nhà lãnh đạo cần có tầm nhìn chiến lược và khả năng quản lý hiệu quả để dẫn dắt đội ngũ cán bộ công chức.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP PHƯỜNG, XÃ 1. Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của cán bộ công chức cấp phường, xã 1. Những vấn đề chung về cán bộ công chức cấp phường, xã 1. Cán bộ Thuật ngữ cán bộ thường được dùng khá phổ biến trong xã hội.

Trên thế giới, thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước XHCN, bao hàm một phạm vi rộng, gồm những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì đến nay chưa có văn bản nào quy định chính thức. Ở Việt Nam, theo cách hiểu thông thường trước đây, cán bộ là những người tham gia cách mạng, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội, công an và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo Từ điển Tiếng Việt, cán bộ có hai nghĩa: thứ nhất, cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong các cơ quan nhà nước; Thứ hai, là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ.

Tại điều 4, khoản 1 và khoản 3, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” (Luật cán bộ, 2008). 7 Vậy cán bộ theo nghĩa cơ bản nhất, đó là những người lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng, tổ chức điều hành công việc, là hạt nhân của một tổ chức, là nòng cốt của một phong trào. Cán bộ không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta, là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng. Vì:“Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành.

Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho Đảng. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc nên huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” (Học viện hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2007). Căn cứ xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Hoạt động của cán bộ luôn gắn với quyền lực chính trị được nhân dân, các thành viên trong tổ chức trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Cán bộ trong cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội do cơ quan có thẩm quyền của Đảng quy định. Cán bộ trong cơ quan nhà nước do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ quy định thông qua các văn bản luật và dưới luật. Công chức Khái niệm công chức thường được hiểu khác nhau giữa các quốc gia, bị chi phối bởi các yếu tố như hệ thống thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước, yếu tố văn hóa, lịch sử,. Do đặc điểm cấu trúc của hệ thống chính trị nước ta, quan niệm về công chức ở Việt Nam cũng có những nét đặc thù.

Ở Cộng hoà Pháp: Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức, bao gồm cả Trung ương và địa phương, nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý. 8 Ở Vương quốc Anh, khái niệm công chức bao hàm những nhân viên làm việc trong ngành hành chính, ví dụ như nội chính và ngoại giao. Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ được gọi chung là công chức. Các nghị sĩ Quốc hội (thượng nghĩ sĩ, hạ nghị sĩ) và những người làm việc trong Quốc hội đều không phải là công chức.

Như vậy, không có một khái niệm thống nhất về công chức, nhưng có điểm chung, công chức là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh, thừa hành một công vụ trong cơ quan nhà nước, được xếp vào một ngạch, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Tại Việt Nam, theo Luật công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/ 2008: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định: các cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước; Bộ, cơ quan ngang bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập; Cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện; Hệ thống Tòa án nhân dân; Hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân; Cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội; Cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; Bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Luật công chức, 2008). Công chức phường, xã Công chức xã được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 36 Luật Cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2008 đã đưa ra khái niệm cụ thể về công chức xã: Công chức phường, xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân 9 phường, xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Luật công chức, 2008). Công chức phường, xã có 07 chức danh cụ thể sau: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Nông thôn - Xây dựng và Môi trường; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.

Như vậy, công chức phường, xã là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch thuộc biên chế của phường, xã, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và làm công tác chuyên môn theo quy định của pháp luật thuộc Ủy ban nhân dân phường, xã, có trách nhiệm giúp ủy ban nhân dân xã quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND phường, xã giao (Luật công chức, 2008). Đặc điểm của công chức cấp phường, xã Công chức phường, xã theo quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ- BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ phải có trình độ chuyên môn phù hợp từ trung cấp trở lên. Chính từ quy định này nên công chức phường, xã có sự đồng nhất và tương đối đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Hiện nay, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 về hướng dẫn chức trách, tiêu chuẩn cụ thể nhiệm vụ và tuyển dụng công chức phường, xã, thị trấn.

Quy định đã xác định rõ chức trách, nhiệm vụ của từng chức vụ, chức danh trong cán bộ, công chức phường, xã. - Công chức xã phải thông qua tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực công tác cụ thể nên nhìn chung có sự đảm bảo về tiêu chuẩn và tính ổn định trong công tác. Tính ổn định của công chức xã khá cao. - Công chức xã trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác.

- Đội ngũ công chức cấp xã đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và là lực lượng chiếm số lượng hết sức đông đảo trong tổng số biên chế hiện nay. 10 - Công chức xã là những người gần dân, sát dân, biết dân, trực tiếp triển khai chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào dân, gắn bó với nhân dân. - Công chức xã là người trực tiếp giải quyết tất cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. - Công chức xã có tính chuyên môn hoá thấp, kiêm nhiệm nhiều.

- Công chức xã là những người có tình cảm gắn bó, lâu dài với địa phương là những người dân của địa phương do đại đa số nhân dân tín nhiệm, bầu lên do đó một phần nào ảnh hưởng đến việc thi hành công vụ. Vị trí, vai trò của công chức phường, xã Vị trí: Công chức phường, xã có một vị trí, vai trò rất quan trọng, là chủ thể thực thi pháp luật để quản lý mọi mặt của đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước đề ra; giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động; điều hành các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước. Vai trò: - Công chức phường, xã là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến nhân dân; làm cho các tầng lớp nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ các chủ trương, chính sách đó. - Công chức phường, xã là người có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.

- Công chức phường, xã là người giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân, đồng thời là người nắm bắt kịp thời, phản ánh đầy đủ các tâm tư, 11 nguyện vọng của nhân dân để Đảng, Nhà nước có cơ sở khoa học sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các chủ trương, chính sách có tính khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tăng cường năng lực thực thi công vụ tại phường xã Cẩm Phả, Bắc Ninh" đề cập đến các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi công vụ tại các phường xã, từ đó cải thiện chất lượng dịch vụ công cho người dân. Nội dung tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ công chức, cũng như việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính. Những cải tiến này không chỉ giúp nâng cao năng lực làm việc của cán bộ mà còn tạo ra sự hài lòng cho người dân khi tiếp cận các dịch vụ công.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư tại ủy ban nhân dân phường trên địa bàn quận đống đa thành phố hà nội, nơi trình bày ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, hay Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức ở tỉnh bắc ninh, tập trung vào việc cải thiện chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn tốt nghiệp đánh giá sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ hành chính công của trung tâm hành chính quận thanh khê thành phố đà nẵng, để có cái nhìn sâu sắc hơn về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến năng lực thực thi công vụ và chất lượng dịch vụ công.